Chương 1: Lý luận chung về phát triển hoạt đông bao lãnh của ngân hãng thương mai Chương 2: Phân tích thực trạng phat triển hoạt đông bao lãnh tại Ngân. hàng TMCP Việt Nam Thinh Vượng ~ CN Đả Ning Chương 3: Các giải pháp phát triển hoạt đông bảo lãnh tại Ngân hàng. TMCP Việt Nam Thinh Vượng- CN Da Ning Chuong 1 LYL CHUNG VE PHAT TRIEN HOAT DONG BAO LANH CUA NGAN HANG THUONG MAI 1a. Tống quan về hoạt động bao lanh ngân hàng cua NHTM 111 Sựra đời và phát triển của hoạt động bao lãnh ngân hàng 1.
Sự ra đời của hoạt động bảo lãnh ngân hàng Nền kinh tế ngày càng phát triển kéo theo sự phát triển không ngừng. của các hoạt động giao lưu trao đổi hàng hóa dịch vụ, thương mại. Các giao dịch ngày càng phát triển về mặt số lượng, giá trị, độ phức tạp và được mở. rộng trên phạm vi toàn thế giới.
Chính điều đó làm gia tăng đáng kể các rủi ro. như rủi ro không thực hiện hợp đồng, rủi ro tín dụng. để phòng ngừa rủi ro bên giao hàng hóa thường yêu cầu bên nhận hàng hóa phải có bảo lãnh của bên thứ ba và như thể nghiệp vụ bảo lãnh ra đời. Trên thực tế có nhiều tổ chức tài chính phát hành bảo lãnh như chính phủ, công ty bảo hiểm, công ty tài chính.song_ bảo lãnh phát triển ở các ngân hàng thương mại nguyên do xuất phát từ những đặc điềm riêng có của ngân hàng thương mại đó là: ~ Với vị trí là trung gian tài chính của nền kinh tế, ngân hàng nắm bắt được nhiều thông tin về khách hàng, tiềm lực tài chính của khách hàng thông.
qua tài khoản tiền gửi của họ để tạo cơ sở cho việc cấp bảo lãnh đúng đắn - Với những hoạt động dịch vụ tài chính trong nền kinh tế, ngân hàng đã xây dựng được uy tín của mình đối với khách hàng, mà uy tín của ngân hàng là yếu tố quan tâm hàng đầu của khách hàng khi quyết định dịch vụ bảo. lãnh của ngân hàng. Sự phát triển của nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng Xuất hiện vào những năm 60 của thế ký XX trong thi trương nội địa nược My vả đến năm những năm 70 mơi được sư dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế. Nguồn gốc của hoạt động bảo lãnh ngân hàng đó là sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dầu mỏ ở các các nước Trung Đông, khi các quốc gia Trung Đông liên tục ký kết các hợp đồng kinh tế với các quốc gia phương Tây để thực hiện các dự án như: cải tạo cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp.và để đảm bảo các hợp đồng này, các công ty giàu mỏ Trung Đông yêu cầu chứng minh năng lực tài chính của mình thông qua bảo lãnh ngân hàng.
Bảo lãnh đã thực sự trở thành công cụ phòng ngừa rủi ro quan trọng. 'Vớơi khả năng ưng dụng rộng rãi trong các loại giao dịch (tải chính, phi tải chính, thương mại, phi thương mại), bao lãnh ngân hảng ngày cảng được cung cố một cach chắc chắn vơi doanh số bao lãnh cua các ngân hảng trên thế giới gia tăng nhanh chong. Nghiệp vụ bảo lãnh được các ngân hàng chú trọng hoàn thiện và phát triển trong điều kiện mua bán chịu ngày càng phát triển, tiết kiệm vốn cho cả bên bán hàng và bên mua hàng. Tại Việt Nam, từ những năm 80, bảo lãnh đã được đề cập trong các văn bản pháp quy nhưng chỉ do Ngân hàng nhà nước thực hiện như một công cụ hỗ trợ kinh doanh cho các doanh nghiệp vay vốn nước ngoài đề sản xuất kinh doanh.
Sau công cuộc đổi mới trong hệ thống ngân hàng năm 1998, cùng với các nghiệp vụ ngân hàng khác, nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng mới được thực hiện ở giai đoạn đầu và đang từng bước khẳng định vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Khái niệm và bản chất của bảo lãnh ngân hàng. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng (BLNH) li sự cam kết của tổ chức tin đụng (Bên bảo lãnh) vơi bên có quyển (bên nhân bảo lãnh) vẻ việc thực hiện đẩy du nghĩa vụ tải chính thay cho khach hảng (bên được bao lãnh) khi khách hàng. không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết vơi bên nhân bảo lãnh.
Bao lãnh cẩn thiết khi hai bên tham gia vảo một mối quan hệ kinh tế, chính tri hay xã hội ma con chua tin nhiệm nhau hay không đủ chỉ phí vả ky thuật nghiệp vụ để đanh giá về bên kia Hình thức của BLNH là hợp đồng bảo lãnh hay còn gọi là thư bảo lãnh. Thư bảo lãnh là cam kết bằng văn bản giữa khách hàng và ngân hàng về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong việc bảo lãnh và hoàn trả. Như vậy, BLNH là cam kết bằng văn bản, là hình thức cấp tín dụng bằng chữ ký, tại thời điểm tham gia bảo lãnh, ngân hàng không trực tiếp xuất vốn mà chỉ dùng khả năng tài chính và uy tín của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đã cam kết. Theo khai niệm trên, tham gia bảo lãnh gồm có ba bên: - Bên được bảo lãnh: Là bên yêu cầu NH mở thư bảo lãnh.
Đây là khách hàng của ngân hàng. Trong trường hợp có sự vi phạm hợp đồng, NH sẽ phải thanh toán thay và bên được bảo lãnh phải có nghĩa vụ bồi hoàn cho NH. - Bên nhận bảo lãnh: là bên được hưởng bồi thường theo các quy định trong thư bảo lãnh khi có sự vi phạm hợp đồng, với điều kiện bên nhận bảo lãnh phải xuất trình đầy đủ các chứng từ phù hợp với các điều khoản được quy định trong hợp đồng bảo lãnh. Hop déng mua ban, - Bên bảo lãnh: là bên bảo lãnh và có nghĩa vụ thal Int mhh@ | hy đả| Bênđược báolãnh [ cng didu da ky két tro] BEN niin báo lãnh Đơn xin bao lãnh (1) “Thư bao lãnh (3) Bén bao lanh (NH) 1.
Bán chất cua bao lãnh ngân hang ~ Tính độc lập cua bao lanh: Bảo lãnh ngân hàng có tính độc lập so với hợp đồng. Mặc dù mục đích của bảo lãnh ngân hàng là bồi hoàn cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh trong quan hệ hợp đồng của người được bảo lãnh, nhưng việc thanh toán của một bảo lãnh chỉ hoàn toàn căn cứ vào các điều khoản và điều kiện được quy định trong hợp đồng bảo lãnh vả ngân hang không thể dựa vao những quyền kháng nghỉ có. được tử quan hệ hợp đồng. Như vậy, ngân hàng có trách nhiệm thanh toán ngay cho bên nhận bảo lãnh khi bên này có yêu cầu và có bằng chứng chứng.
minh sự vi phạm hợp đồng của bên được bảo lãnh, sau đó mới thu nợ bên được bảo lãnh. “Tuy nhiên, tính độc lập của bao lãnh con phụ thuộc vảo chính các điều kiên của bao lãnh. Khi bao lãnh yêu cầu một chưng tử như phán quyết của 'Töa án, một quyết đỉnh của trọng tải, van ban cua bên thư ba xác nhân sự vỉ pham cua ngươi được bao lãnh hay văn ban cua ngươi được bao lãnh thưa nhân sự vĩ phạm của mình thỉ tính độc lâp cua bao lãnh ít nhiều bị giam đi. Ngoài ra, tính độc lập của bảo lãnh ngân hàng còn th hiện ở sự độc lập giữa trách nhiệm thanh toán của ngân hàng với mối quan hệ khách hàng.
Ngân hàng không thể viện cớ bên được bảo lãnh còn nợ tiền của ngân hàng. hay bên được bảo lãnh phá sản để trì hoãn việc thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên nhận bảo lãnh đưa ra đầy đủ chứng tử. ~ Tính phủ hợp cưa bao lãnh: Khi người thụ hưởng bảo lãnh đến yêu cầu NH thanh toán thì Ngân hàng có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người thụ hưởng xuất trình. Ngân hàng bảo lãnh có quyền từ chối thanh toán nếu như chứng từ có dấu.
hiệu không hợp lệ hay những điều kiện của bảo lãnh không được đáp ứng. ~ Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng: Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức tài trợ thông qua uy tín. Ngân hàng không phải xuất tiền ngay khi ký bảo lãnh. Do đó bảo lãnh được coi là một tài sản ngoại bảng.
Khi ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh thì bảo lãnh được xếp vào nội bảng. Lúc này bảo lãnh được xếp vào loại tài sản xấu cấu thành nợ quá hạn. Qua đó cho ta thấy, bảo lãnh cũng là một nghiệp vụ chứa đựng rủi ro như một khoản cho vay. Cúc yếu tố cầu thành nghiệp vụ bao lãnh ngân hàng Hoạt động bao lãnh bao gồm những yếu tố chu yếu sau: a) Phạm vi bao lãnh.
Về mặt nghĩa vụ, ngân hảng co thể cam kết bao lãnh thực hiện một trong số hoặc tất ca các nghĩa vụ sau: - Nghĩa vụ về tra nợ gốc, lãi vay vả các chỉ phí khác co liên quan đến đến khoan vay. - Nghĩa vụ về thanh toan tiền vat tu, hang hoa, may moc thiét bi vả các khoan chỉ phi để khách hảng thực hiên cac dự an hoặc phương an san xuất, kinh doanh. - Nghĩa vụ thanh toan các khoan thuế, các nghĩa vụ tải chính khác đối với Nha nược. ~ Nghĩa vụ khi khach hảng tham gia dự thầu, thực hiện hợp đồng theo quy định của Pháp luật Ngoài ra, ngân hàng còn bỉ giới hạn về gia tri hợp đồng bảo lãnh tủy thuộc vào vốn tự có của ngân hàng.
Ngân hang phải xác đình tổng số dư bảo lãnh sao cho phú hợp vơi kha năng tải chính của mình, bao đảm thực hiện các quy đỉnh hiên hảnh của ngân hãng Nhả nước về các tỷ lệ đảm bao an toàn trong hoạt động cua tổ chưc tin dung. b) Phí bảo lãnh: Doanh thu từ hoạt động bảo lãnh của mỗi ngân hàng chủ yếu là thu phí bảo lãnh, vì vậy mức phí bảo lãnh phải đảm bảo tính cạnh tranh và mang lại lợi nhuận cho mỗi ngân hàng. Thông thường để đảm bảo cạnh tranh lành. mạnh, NHTW các nước quy định tỷ lệ phí bảo lãnh tối đa tính trên số tiền bảo lãnh và phí bảo lãnh tối thiểu.
Trên cơ sở điều chỉnh từ phía NHTW, mỗi NHTM sẽ có biểu phi dịch vụ bảo lãnh riêng. Thông thường phí bảo lãnh ngân hàng bao gồm những khoản mục sau: Giá trị bảo lãnh ® Mức phí bảo lãnh * Thời gian bảo lãnh Phí bảo lãnh = —T—————————3qq ——————————— Trong đó, mức phí bảo lãnh theo quy định của ngân hàng bảo lãnh, có phân biệt phí bảo lãnh có ký quỹ va phí không ký qu. Thông thường, tỷ lệ phí có ký quỹ luôn nhỏ hơn tỷ lệ phí không có.