Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho tỉnh Hà Tĩnh

Luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh hà tĩnh luận án tiến sĩ kinh tế, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

177
11
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1. Phương pháp luận

4.2. Phương pháp nghiên cứu

4.2.1. Phương pháp phân tích SWOT

4.2.2. Phương pháp so sánh

4.2.3. Phương pháp phân tích

4.2.4. Phương pháp tổng hợp

4.2.5. Phương pháp logic

4.2.6. Phương pháp thu thập tài liệu

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1. Về lý luận

6.2. Về thực tiễn

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Hà Tĩnh là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh ngày càng gia tăng. Tỉnh Hà Tĩnh, với vị trí địa lý và chính trị quan trọng, cần phải phát triển chiến lược kinh tế phù hợp nhằm thu hút đầu tư và phát triển bền vững. Các giải pháp phát triển phải được triển khai đồng bộ để cải thiện môi trường kinh doanh, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh. Việc cải thiện hạ tầng, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là những yếu tố then chốt trong quá trình này.

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, việc nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ giúp Hà Tĩnh phát triển mà còn góp phần vào sự phát triển chung của Việt Nam. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh có mối quan hệ mật thiết với năng lực cạnh tranh quốc gia. Hà Tĩnh cần phải khai thác lợi thế so sánh của mình để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững. "Năng lực cạnh tranh của một tỉnh là yếu tố quyết định trong việc thu hút đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội".

II. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là hoàn thiện khái niệm năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2019 - 2030. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm việc xác định các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh, phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp khả thi. Việc này không chỉ giúp chính quyền tỉnh hiểu rõ hơn về năng lực cạnh tranh của mình mà còn tạo ra cơ sở khoa học cho các quyết định phát triển trong tương lai.

2.1. Các câu hỏi nghiên cứu

Luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu chính như: Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là gì? Các yếu tố cấu thành và tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ra sao? Nhân tố nào tác động đến thực trạng năng lực cạnh tranh của Hà Tĩnh? Giải pháp nào có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh trong giai đoạn tới? Những câu hỏi này sẽ được giải quyết thông qua phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp cụ thể.

III. Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng các phương pháp nghiên cứu đa dạng để phân tích năng lực cạnh tranh của tỉnh Hà Tĩnh. Phương pháp phân tích SWOT được sử dụng để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của tỉnh. Đồng thời, phương pháp so sánh với các tỉnh khác giúp xác định vị trí cạnh tranh của Hà Tĩnh. Các số liệu thống kê từ các nguồn đáng tin cậy sẽ hỗ trợ cho việc phân tích và đưa ra kết luận chính xác.

3.1. Phương pháp phân tích SWOT

Phân tích SWOT giúp xác định các yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh. Điểm mạnh như vị trí địa lý thuận lợi và tài nguyên thiên nhiên phong phú cần được phát huy, trong khi các điểm yếu như hạ tầng chưa phát triển đồng bộ cần được khắc phục. "Việc xác định rõ các yếu tố này sẽ tạo cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh".

IV. Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, Hà Tĩnh cần triển khai một loạt các giải pháp đồng bộ. Cải thiện hạ tầng giao thông, thu hút đầu tư vào các lĩnh vực then chốt như công nghiệp và du lịch là những ưu tiên hàng đầu. Bên cạnh đó, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và cải thiện môi trường kinh doanh thông qua chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cũng là rất cần thiết. Các giải pháp này không chỉ giúp tỉnh phát triển mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp.

4.1. Cải thiện hạ tầng và thu hút đầu tư

Hà Tĩnh cần tập trung vào việc cải thiện hạ tầng giao thông để kết nối các khu vực trong tỉnh và với các tỉnh lân cận. Đầu tư vào các dự án hạ tầng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động và thu hút đầu tư. "Hạ tầng tốt là yếu tố quyết định trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh, giúp thu hút các nhà đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội".

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các nghiên cứu về lợi thế so sánh và cạnh tranh, về năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh địa phương 1. Các nghiên cứu về lợi thế so sánh và cạnh tranh Các quan điểm về lợi thế so sánh (LTSS) và cạnh tranh đã xuất hiện từ thế kỷ 17, nhưng đến cuối thế kỷ 18 mới phát triển mạnh mẽ, gắn liền tên tuổi của một số nhà kinh tế học như Adam Smith, David Ricardo, Jonh Stuart Mill, Thomas Malthus, Karl Marx… Adam Smith là nhà kinh tế học cổ điển người Anh, là một trong những học giả đầu tiên nêu quan điểm về lợi thế so sánh và cạnh tranh. Trong tác phẩm nổi tiếng của mình là “Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations” (1776), ông cho rằng, LTSS tuyệt đối có nghĩa là một nước là người sản xuất có chi phí thấp nhất về hàng hóa đó.

Các quốc gia cần đề ra chính sách kinh tế (KT) khuyến khích các chủ thể KT đưa các LTSS này vào vòng chu chuyển KT để tạo ra nguồn lực cạnh tranh nhằm làm gia tăng sự cạnh tranh giữa các quốc gia; đồng thời, các chủ thể KT trên thị trường có thể phối hợp hoạt động KT một cách nhịp nhàng và có lợi cho xã hội. Từ đó ông khẳng định LTSS tuyệt đối khi được đưa vào vòng chu chuyển KT sẽ trở thành nguồn lực cạnh tranh để tạo ra sức cạnh tranh quốc gia [149]. David Ricardo là người kế tục xuất sắc của Adam Smith khi ông vạch ra những mâu thuẫn trong học thuyết của Adam Smith và vượt qua được giới hạn mà Adam Smith phải dừng lại khi phân tích sâu sắc hơn các quy luật KT của chủ nghĩa tư bản. Theo David Ricardo, LTSS tương đối là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế, khi các quốc gia tập trung chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi những mặt hàng có bất lợi nhỏ nhất, hoặc những mặt hàng có lợi lớn nhất thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi.

Theo ông, LTSS tương đối ở những quốc gia có nền KT mở cũng trở thành nguồn lực cạnh tranh quan trọng để tạo ra sức cạnh tranh quốc gia khi nó được đưa vào vòng chu chuyển KT thông qua hoạt động ngoại thương với các quốc gia khác trên thế giới. Tác phẩm “Principles of Political Economy and Taxation” (1817) của David Ricardo đã chỉ ra quan điểm thương mại tự do dựa trên lý luận với lợi thế so sánh (còn gọi là thuyết chi phí so sánh): Quan hệ KT quốc tế là 10 quan hệ "đường hai chiều" có lợi cho mọi nước tham gia, vì bất kỳ nước nào cũng có lợi thế tương đối, tức là lợi thế có được trên cơ sở so sánh với các nước khác. Đồng thời, ông coi cạnh tranh là thuộc tính tất yếu của nền kinh tế thị trường và các chủ thể KT cần phải sử dụng LTSS để tiến hành thương mại quốc tế nhằm nâng cao NLCT và đây là một tất yếu có tính sống còn trong nền kinh tế thị trường. Ông cho rằng, LTSS tương đối cần được chuyển hóa thành nguồn lực cạnh tranh của mỗi quốc gia trong quá trình thương mại quốc tế [140].

Sau Adam Smith và David Ricardo, còn có rất nhiều nhà kinh tế nghiên cứu về LTSS với tư cách là một nguồn lực cạnh tranh quan trọng tạo nên sức cạnh tranh của mỗi quốc gia và các địa phương của chúng, trong đó đáng chú nhất là lý thuyết LTSS theo mô hình H - O. Mô hình về LTSS này do Heckcher đưa ra năm 1919 và được Ohlin hoàn thiện năm 1933 là mô hình toán cân bằng tổng thể trong lý thuyết thương mại quốc tế và phân công lao động quốc tế dùng để dự báo xem quốc gia nào sẽ sản xuất mặt hàng nào trên cơ sở những yếu tố sản xuất sẵn có của quốc gia. Theo mô hình này, LTSS tương đối sẽ trở thành nguồn lực cạnh tranh quan trọng để tạo ra sức cạnh tranh của một quốc gia khi nó được các chủ thể KT đưa vào vòng chu chuyển KT thông qua hoạt động buôn bán với các quốc gia khác trên thế giới [111], [130]. Có thể thấy, những nghiên cứu kinh điển nói trên về LTSS đã cung cấp cơ sở lý luận và một hệ thống quan điểm, phương pháp nghiên cứu cơ bản về cơ chế chuyển hóa LTSS thành nguồn lực cạnh tranh cho giới nghiên cứu quốc tế.

Những quan điểm này có thể áp dụng để nghiên cứu về LTSS ở cả cấp độ quốc gia và ở cả cấp độ địa phương, doanh nghiệp (DN). Tác giả luận án đã tiếp thu những quan điểm và phương pháp lý luận kinh điển nói trên để đi sâu nghiên cứu về cơ chế chuyển hóa LTSS thành nguồn lực cạnh tranh dưới góc độ quản lý kinh tế (QLKT) trong đề tài nghiên cứu của mình. Bên cạnh những nghiên cứu kinh điển nói trên, hiện nay ở Việt Nam có nhiều tác gia nghiên cứu về LTSS ở cả cấp độ quốc gia và ở cả cấp độ địa phương, DN như: Nghiên cứu của Nguyễn Thế Vinh (2016) “Phát huy lợi thế so sánh để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc”, nghiên cứu của Nguyễn Xuân Điền (2016) “Những nhân tố tác động đến lợi thế so sánh của Hà Nội với các vùng địa phương”, 11 nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Chương và Nguyễn Thanh Trọng (2017) “Lợi thế và xu hướng xuất khẩu của Việt Nam trong quan hệ thương mại với ASEAN”… Các nghiên cứu trên mặc dù có đề cập tới vai trò của LTSS trong việc phát triển KT của Việt Nam, các địa phương, các DN nhưng đáng tiếc là chúng đã chưa đề cập tới cơ chế chuyển hóa LTSS thành nguồn lực cạnh tranh. Tuy nhiên, những nghiên cứu kể trên đã cung cấp cho tác giả luận án thêm cứ liệu khoa học phong phú, đa chiều để tác giả đi sâu nghiên cứu về cơ chế chuyển hóa LTSS thành nguồn lực cạnh tranh dưới góc độ QLKT trong nghiên cứu của mình [11], [28], [73].

Vấn đề cạnh tranh đã được nhiều tác giả nghiên cứu, trong đó tiêu biểu là Adam Smith, David Ricardo, John Stuart Mill, Karl Marx. Các tác giả Adam Smith, David Ricardo đều khẳng định cạnh tranh là một tất yếu của nền kinh tế thị trường và nhờ có cạnh tranh mà tạo ra động lực phát triển của nền kinh tế thị trường. Tác giả John Stuart Mill trong cuốn “Principles of political economy” (1848) cho rằng, các DN có quyền tự do cạnh tranh nhưng không được đưa lợi ích cá nhân, quyền lợi của DN lên trên giá trị đạo đức kinh doanh, đạo đức xã hội. Tác giả Karl Marx cho rằng, cạnh tranh trong tác phẩm “Das Kapital” (1867) chính là sự tranh đấu giành lợi thế thuận lợi giữa các nhà tư bản trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa, với mục đích thu về lợi nhuận siêu ngạch… Tiếp thu những quan điểm về cạnh tranh của các nhà kinh tế học cổ điển, các học giả hậu thế đều thống nhất quan điểm về tính tất yếu của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường [122], [124].

Những tác giả kinh điển không chỉ khẳng định cạnh tranh là một thuộc tính tất yếu của kinh tế thị trường, mà họ còn chỉ ra mối quan hệ giữa LTSS và nguồn lực cạnh tranh, giữa LTSS và lợi thế cạnh tranh (LTCT) và NLCT. Họ đã dần hình thành quan điểm về sự chuyển hóa LTSS thành nguồn lực cạnh tranh rồi chuyển hóa nguồn lực cạnh tranh thành LTCT và NLCT ở cấp độ quốc gia. Những quan điểm trên của các nhà kinh tế học cổ điển đã cung cấp cho tác giả luận án một cách tiếp cận khoa học để đi sâu nghiên cứu cơ chế chuyển hóa LTSS thành nguồn lực cạnh tranh và sự chuyển hóa nguồn lực cạnh tranh thành LTCT cấp tỉnh dưới góc độ QLKT trong nghiên cứu của mình.2 Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh địa phương Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) (1995), NLCT quốc gia là năng lực của nền KT quốc dân đạt và duy trì mức tăng trưởng cao về KT, thu nhập và việc làm. Ngoài ra, WEF còn cho rằng, NLCT quốc gia như là hệ thống của các định chế, chính sách và những nhân tố quyết định đến mức độ năng suất của một quốc gia… Nói cách khác, nhiều nền KT cạnh tranh có xu hướng sản xuất ra mức độ thu nhập cao hơn cho người dân của quốc gia họ… Theo khái niệm của Michael Porter (1990), “chúng tôi đã định nghĩa thành công quốc tế của một ngành công nghiệp ở một quốc gia là sở hữu được lợi thế cạnh tranh tương đối so với những đối thủ mạnh nhất thế giới” [135, tr.

Cạnh tranh và NLCT không chỉ diễn ra trên phạm vi quốc gia, mà nó còn diễn ra rất rõ trên cả phạm vị các địa phương của mọi quốc gia. Từ các ấn phẩm quốc tế đã được công bố về NLCT địa phương có thể thấy, các học giả quốc tế thường dùng thuật ngữ địa phương (local) mang tính đa nghĩa, vì có khi họ dùng thuật ngữ này để chỉ cấp quận, huyện, cấp tỉnh, khi khác họ lại chỉ cấp vùng gồm nhiều tỉnh, thậm chí thuật ngữ này còn được không ít học giả chỉ một quốc gia và một khu vực gồm nhiều quốc gia. Còn ở Việt Nam, thuật ngữ địa phương hầu như được dùng để chỉ cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung Ương (TW). Cho đến nay, có nhiều quan điểm khác nhau về NLCT trên các cấp độ quốc gia, DN, ngành, sản phẩm, địa phương, vùng.

Song, điều đáng tiếc là hiện chưa có lý thuyết nào được hoàn toàn thừa nhận, vì thế trên thế giới hiện vẫn chưa có lý thuyết chuẩn về NLCT, nhất là về NLCT cấp độ địa phương. Bên cạnh đó, các nghiên cứu tuy cùng cấp độ nhưng cách tiếp cận và đánh giá về NLCT cấp độ địa phương cũng rất khác nhau. Đây thực sự là những khó khăn cho tác giả khi tiếp cận nghiên cứu vấn đề này. Trong số những ấn phẩm về NLCT địa phương, những nghiên cứu của Michael Porter được đánh giá rất cao.

Trong “The advantage competitiveness of Nation” (1990), ông đã đưa ra những gợi ý cơ bản để hình thành khung phân tích NLCT địa phương. Những nghiên cứu về NLCT của địa phương đã đánh giá các yếu tố cấu thành thông qua các yếu tố tác động đến NLCT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho tỉnh Hà Tĩnh" trình bày những chiến lược và giải pháp nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh của tỉnh Hà Tĩnh trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay. Tác giả chỉ ra rằng việc nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ giúp tỉnh phát triển bền vững mà còn tạo ra cơ hội thu hút đầu tư và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Bài viết cung cấp cho độc giả cái nhìn sâu sắc về tầm quan trọng của quản lý kinh tế và các chính sách cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của tỉnh.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý kinh tế và nâng cao chất lượng giáo dục, bạn có thể tham khảo các bài viết sau:

Những bài viết này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các giải pháp và chính sách cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực giáo dục và quản lý kinh tế.