phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị có 3 chƣơng gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lí ĐNGV theo tiếp cận quản lí NNL Chƣơng 2: Thực trạng ĐNGV quản lí ĐNGV các trƣờng ĐHĐP Chƣơng 3: Giải pháp quản lí ĐNGV trong các trƣờng ĐHĐP Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN THEO TIẾP CẬN QUẢN LÍ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề đội ngũ giảng viên đại học 1.
Ở nước ngoài Trong mọi thời đại, vai trò của ngƣời giáo viên luôn đƣợc đánh giá cao. Không chỉ Robert J.Marzano xác định GV là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến thành tích học tập của ngƣời học [150], Peter A.Hall và Alisa khẳng định: trong giáo dục, năng lực của GV là sức mạnh quan trọng nhất [139], hay “giáo viên đƣợc xem nhƣ là chìa khóa của chất lƣợng và sự thành công trong giáo dục ở bất kỳ hệ thống giáo dục của bất kỳ xã hội nào” [134]. Chính vì vậy, nhiều tác giả đã nghiên cứu và đề xuất nhiều nội dung lí luận nhằm phát triển năng lực của GV, làm thế nào để ngƣời GV phát huy tốt nhất vai trò của mình đối với ngƣời học.Hall và Alisa, nhà quản lí giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc xây dựng năng lực cho GV với vai trò là “ngƣời đƣa ra gợi ý” (prompter) và “ngƣời tạo ra thách thức” (challenger), đặc biệt là thuyết phục GV có quan niệm tích cực về sự thay đổi: thay đổi về chƣơng trình, khối lƣợng công việc, nhận thức… Robert A. Slullo [158] đã cung cấp các thông tin làm thế nào để có thể trở thành một giáo viên đầy cảm hứng; bàn về nhiều nội dung rất hữu ích nhƣ: Phẩm chất của một giáo viên giỏi (niềm đam mê học tập, học tập suốt đời, lời nói đi đôi với việc làm), cách quản lí xung đột hay quản lí thời gian,.
và bàn đến một số vấn đề khá thú vị nhƣ: “Thuyết lựa chọn” (Choice Theory) hay những nội dung liên quan đến việc “truyền cảm hứng cho sinh viên của bạn” “truyền cảm hứng nghề nghiệp cho đồng nghiệp”. ĐNGV luôn là một nội dung không thể thiếu trong các công trình nghiên cứu về GDĐH: John K Thelin [160] chỉ ra rằng, trong lịch sử phát triển của GDĐH Hoa Kỳ từ năm 1945-1970, GV là ngƣời đƣợc hƣởng thu nhập cao nhất, có quyền lực nhất, có uy tín nhất và đƣợc bảo vệ tốt nhất bởi họ quyết định đến sự thịnh vƣợng của nhà trƣờng. Tuy nhiên, họ phải là những ngƣời phải trải qua nhiều vòng tuyển chọn gắt gao để trở thành GVĐH. Theo quan điểm của ông, những ngƣời đƣợc hƣởng quyền này chỉ là những GV đã đƣợc nhà nƣớc tuyển dụng - tenures.
Ông cũng đã so sánh với tự do học thuật ở Đức và chỉ ra rằng, tự do học thuật ở Hoa Kỳ mới chỉ dừng lại ở tự do giảng dạy (freedom to teach) chứ chƣa có tự do học tập (freedom to learn). Nghiên cứu thực tiễn, Philip G Altbach và Gerard A. Postiglione [132] đã giải thích tại sao Hong Kong (HK) - Đặc khu hành chính của Trung Quốc với dân số chỉ có 7 triệu ngƣời, lại có nhiều trƣờng ĐH đƣợc xếp hạng trƣờng ĐH nghiên cứu hơn Trung Quốc với 3 trƣờng ĐH nằm trong tốp đầu của thế giới và 8 trƣờng ĐH công khác cũng đều là những trƣờng danh tiếng. Những lí do đó tập trung vào: bối cảnh, tình hình phát triển của HK, sự chỉ đạo của chính quyền và quyền tự chủ của các trƣờng; sự quản lí hiệu quả của bộ máy lãnh đạo các trƣờng; môi trƣờng toàn cầu hóa; sự thống trị của tiếng Anh và đặc biệt là đội ngũ làm công tác giảng dạy.
Chế độ trả lƣơng cao, điều kiện làm việc, đãi ngộ tốt cả về lƣơng, thƣởng, thăng tiến… đã giúp cho HK có đƣợc ĐNGV tốt nhất. Ngoài ra, họ cho rằng, các trƣờng ĐH nghiên cứu của HK phải đƣợc xây dựng một cách cơ bản trên sự tầm cỡ về chuyên môn của các nhà lãnh đạo nhà trƣờng và chỉ những nhà chuyên môn nổi tiếng mới có thể lãnh đạo trƣờng của họ. Handbook of good human resource practices in the teaching profession [145] đã rút ra đƣợc những kinh nghiệm thực tiễn trong quản lí NNL giáo dục ở các nƣớc thành viên thuộc Tổ chức Lao động quốc tế (ILO); đƣa ra nhiều ví dụ và những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng đối với tất cả các trƣờng học và hệ thống giáo dục, cũng nhƣ có thể điều chỉnh để thích ứng với sự khác biệt về nguồn lực sẵn có, về văn hóa, dân tộc, giới tính, chính trị,. để quản lí đội ngũ giáo viên một cách hiệu quả nhƣ: tuyển dụng và việc làm của giáo viên dựa trên nguyên tắc cơ hội bình đẳng, không phân biệt đối xử và dựa trên khả năng chuyên môn; điều kiện làm việc, bao gồm cả quyền đƣợc nghỉ phép và phát triển sự nghiệp; vai trò và trách nhiệm nghề nghiệp của giáo viên; môi trƣờng làm việc, thời gian và khối lƣợng công việc, 9 quy mô lớp học, tỉ lệ học sinh - giáo viên; và các vấn đề về sức khỏe và an toàn; những yêu cầu của giáo viên về khen thƣởng, tiền lƣơng và các chính sách ƣu đãi; các vấn đề an ninh xã hội; đối thoại xã hội và các quan hệ lao động trong nghề dạy học; những vấn đề liên quan đến đào tạo ban đầu, đào tạo nâng cao và bồi dƣỡng đội ngũ.
Khẳng định rằng, nghề dạy học là nghề quan trọng nhất và những nhà giáo dục phải là những ngƣời làm công việc hằng ngày của mình một cách đầy nhiệt huyết và hiệu quả; tinh thần làm việc của đội ngũ là hết sức quan trọng, các tác giả Todd Whitaker, Beth Whitaker và Dale Lumpa [164] đã cung cấp các chiến lƣợc để các nhà quản lí giáo dục có thể kiến tạo tinh thần tích cực cho ĐNGV và nhân viên. Đây là một trong những nghiên cứu quan trọng liên quan đến việc xác lập các yêu cầu đối với GV; giúp các GV tiếp cận công việc mỗi ngày trong một trạng thái tinh thần tích cực. Những gợi ý khuyến khích GV nâng cao phẩm chất và kỹ năng để truyền nhiệt huyết cho ngƣời học học tập và giúp ngƣời học thành công cũng đã đƣợc James H. Stronge đƣa ra [154] cùng với việc phân tích điều kiện tiên quyết cho việc giảng dạy hiệu quả, quản lí và tổ chức lớp học, lập kế hoạch và tổ chức lớp học.
Trong thời đại hiện nay, hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu. Teachers Professional development - Europe in international comparison [155] đã phân tích tác động của bối cảnh chính trị châu Âu đến việc giảng dạy, chính sách giáo dục và trƣờng học, coi việc phát triển chuyên môn cho GV là phƣơng tiện để đẩy mạnh hiệu quả giáo dục, cụ thể là làm tăng hiệu quả giảng dạy của các GV, củng cố niềm tin và năng lực của GV, tăng cƣờng kỹ năng giảng dạy, phát triển chuyên môn một cách liên tục cho GV. Cuốn sách cũng phân tích các chính sách phát triển chuyên môn cho GV và hiệu quả của các chính sách này ở một số quốc gia. Các tác giả nhận thức rằng, “ngƣời học xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau và vì vậy, ngay cả những GV giỏi nhất cũng phải luôn cập nhật các kiến thức và kỹ năng cần thiết để hoàn thành vai trò mới của mình”.
Hơn nữa, GV có trách nhiệm mở rộng kiến thức chuyên môn thông qua nghiên cứu, và thông qua việc tham gia các hoạt động chuyên môn liên tục trong suốt sự nghiệp của họ. Ở trong nước ĐNGV giữ vai trò quan trọng trong chiến lƣợc phát triển của các trƣờng ĐH Việt Nam. Nếu nói GDĐH là máy cái để quyết định đào tạo chất lƣợng NNL của đất nƣớc thì ĐNGV quyết định chất lƣợng vận hành của máy cái đó. Rất nhiều công 10 trình của các nhà khoa học quản lí giáo dục trong nƣớc đã nghiên cứu về đội ngũ nhà giáo nói chung, về vai trò, chức năng và các vấn đề liên quan khác đến ĐNGV ĐH nói riêng.
Vấn đề đƣợc quan tâm nhất đó là, làm thể nào để phát triển ĐNGV trong các trƣờng ĐH hiện nay trên mọi phƣơng diện đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nƣớc và hội nhập quốc tế. Có 2 lí do chính làm cho vấn đề ĐNGV trở thành mối quan tâm hàng đầu của trƣờng. Thứ nhất, trình độ của đội ngũ quyết định chất lƣợng và khả năng của nhà trƣờng trong giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ xã hội trong nền kinh tế hàng hóa. Thứ hai, chi phí lƣơng và phụ cấp cho đội ngũ này là khoản chi phí lớn nhất của mỗi trƣờng ĐH, nó gắn liền với vấn đề chất lƣợng, hiệu quả và hiệu suất đào tạo [72].
Trong đổi mới giáo dục ĐH, có rất nhiều nội dung cần đƣợc tiến hành đồng bộ song phát triển ĐNGV có chất lƣợng cao là vấn đề đƣợc quan tâm hàng đầu và là nhân tố có tính sống còn trong việc nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, việc bồi dƣỡng, phát triển giảng viên ở nƣớc ta hiện nay còn hạn chế. Đó là chƣa có một hệ thống, những tiêu chí cụ thể trong việc phát triển và đánh giá GV cả về năng lực chuyên môn và năng lực nghiên cứu. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu nhƣ hiện nay, “Đội ngũ giảng viên cần đƣợc đào tạo phát triển một cách toàn diện, hƣớng tới chuẩn mực quốc tế”.
Trong thời gian qua, nhiều Luận án Tiến sĩ Quản lí giáo dục đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản lý, phát triển ĐNGV các trƣờng ĐH đa ngành, ĐH chuyên ngành, ĐH tƣ thục… và đƣa ra nhiều giải pháp quan trọng nhƣ: Xây dựng môi trƣờng tự chủ và trách nhiệm trong đại học đa ngành đa lĩnh vực; Tuyển dụng, sử dụng ĐNGV theo quan điểm tự chủ và trách nhiệm xã hội; Đổi mới quy hoạch và đào tạo, bồi dƣỡng ĐNGV theo quan điểm tự chủ và trách nhiệm xã hội. [95];“Tổ chức thực hiện mạng liên kết ĐNGV trong các trƣờng đại học vùng đồng bằng sông Cửu Long” [27]; Ban hành các bộ quy chế, quy định về chế độ công tác của GV; thực hiện chế độ phụ cấp ƣu đãi. Gần đây có: Nguyễn Đức Trí (2015), Các đặc trưng cơ bản của quản lí ĐNGV trường ĐH theo tiếp cận quản lí NNL chiến lược [95], Thái Văn Thành, Nguyễn Nhƣ An (2015), Quản lí hoạt động NCKH của GV trường ĐH trước bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo [87], Phạm Trung Thành (2015), Xây dựng ĐNGV các trường ĐH theo hướng chuẩn hóa [88],… 1.