PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước không chỉ đòi hỏi cần phải có tài nguyên, vốn, kỹ thuật, công nghệ hay nói chung là những phương tiện mà còn cần phải có những người có đủ năng lực, trình độ và sử dụng hiệu quả những phương tiện trên vào sản xuất để làm ra của cải vật chất cho xã hội. Đó chính là nguồn nhân lực và yếu tố này đóng vai trò ngày càng lớn trong đời sống kinh tế xã hội hiện nay. Nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá bao gồm: - Đội ngũ công nhân trưởng thành về chính trị, có tinh thần kỹ luật, kỹ năng nghề nghiệp cao, có trình độ làm chủ khoa học - kỹ thuật - công nghệ mới; - Những con người có đức, có tài, ham học hỏi, thông minh, sáng tạo, năng động; được chuẩn bị tốt về kiến thức văn hóa, có năng lực trong sản xuất kinh doanh; có trình độ khoa học - kỹ thuật tiên tiến đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; có khả năng tham gia điều hành nền kinh tế.
Cần đào tạo một đội ngũ nhân lực đủ về số lượng, tốt về chất lượng, có cơ cấu đồng bộ bao gồm các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, cán bộ nghiên cứu và triển khai công nghệ, cán bộ quản lý, nghiệp vụ các ngành; bên cạnh các kỹ sư, chuyên viên có chuyên môn cao, không thể thiếu đội ngũ nhân viên, công nhân kỹ thuật lành nghề. Kinh nghiệm Nhật Bản cho thấy, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nước Nhật bị tàn phá nặng nề, trong đó có cả những thảm họa nghiêm trọng do 2 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống ở Hiroshima và Nagasaki. Kinh tế Nhật Bản khi đó kiệt quệ, khó khăn, thiếu thốn mọi thứ, xã hội rối loạn nhưng chỉ sau khoảng 10 năm (1945 –1954), kinh tế Nhật Bản đã phục hồi nhanh chóng và trong giai đoạn 1954 –1973 đã phát triển với tốc độ thần kỳ để trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới sau Mỹ. Đó chính là kết quả của việc phát huy tối đa vai trò nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực kỹ thuật – công nghệ nói riêng trong xây dựng và phát triển đất nước.
Để thực hiện được những mục tiêu trên, phải coi trọng việc đầu tư cho giáo dục, đào tạo, đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu. Quốc sách này đã được thể hiện trong một số văn kiện quan trọng của Đảng và chính phủ: 2 - Kết luận số 51-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ngày 29 tháng 10 năm 2012 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” [4]. - Chỉ thị Số: 02/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 22 tháng 01 năm 2013 giao Bộ Giáo dục và Đào tạo những nhiệm vụ chính như sau: a) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tiếp tục nghiên cứu, hoàn chỉnh Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, trình Ban Cán sự đảng Chính phủ tháng 7 năm 2013. b) Hoàn thiện Quy hoạch phát triển mạng lưới các trường đại học, cao đẳng đến năm 2020, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong quý I năm 2013.
Tóm lại: Nguồn nhân lực kỹ thuật - công nghệ là điều kiện cần cho sự phát triển của đất nước; "Quản lý đào tạo kỹ thuật - công nghệ trong trường đại học” là một trong những khâu quan trọng hàng đầu để góp phần vào công tác đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật - công nghệ. Quản lý đào tạo luôn phải đi kèm với quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo. Nâng cao chất lượng ĐT luôn là nhiệm vụ cơ bản, quan trọng của nhà trường, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển giáo dục và đào tạo. Trong bối cảnh cạnh tranh của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, việc tăng cường quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo là yêu cầu sống còn của các trường nói chung và của các trường ĐH nói riêng.
- Trong giáo dục và đào tạo, sản phẩm tạo ra là con người nên không thể dễ dàng bị loại bỏ như phế phẩm, nên không áp dụng phương thức Kiểm soát chất lượng; - Trong phương thức quản lý chất lượng tổng thể (TQM), phải cải tiến liên tục và đòi hỏi phải có “Môi trường văn hóa chất lượng”, cơ sở vật chất, nhân sự. mang tính ý thức cao, tích cực để thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng. Do đó, Phương thức ĐBCL với đặc điểm “bao gồm các quy trình chặt chẽ để chất lượng sản phẩm đầu ra được đảm bảo” là thích hợp cho đa số các ĐH ở VN. Phương thức "đảm bảo chất lượng” là phù hợp với điều kiện nền kinh tế - xã hội đang trong thời kỳ phát triển của nước ta, phù hợp với các quy định đảm bảo chất lượng hiện nay của nhà nước (Luật giáo dục đại học 2012 dành cả chương VII để qui định về "Đảm bảo chất lượng và Kiểm định chất lượng Giáo dục đại học” [50]), của Bộ GD&ĐT, phù hợp với các hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục của nhiều nước tiên tiến trên thế 3 giới (Mỹ, Anh, Pháp.), trong đó có hệ thống ĐBCL của Mạng lưới các Trường Đại học Đông Nam Á (AUN - QA: ASEAN University Network – Quality Assurance) [24].
Từ các lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý đào tạo ngành Kỹ thuật - Công nghệ theo hướng đảm bảo chất lượng tại Trường Đại học Tây Đô” làm đề tài luận án. Mục tiêu nghiên cứu Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý đào tạo ngành KT-CN trong trường đại học từ đó đề xuất những biện pháp quản lý đào tạo ngành KT-CN trong trường ĐH Tây Đô theo hướng đảm bảo chất lượng nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo ngành KT-CN tại Trường ĐH Tây Đô. Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3. Khách thể nghiên cứu Quản lý đào tạo ngành kỹ thuật - công nghệ trong trường đại học.
Đối tượng nghiên cứu Quản lý đào tạo ngành Kỹ thuật - Công nghệ theo hướng đảm bảo chất lượng tại Trường Đại học Tây Đô. Giả thuyết khoa học Nếu đề xuất và áp dụng được các biện pháp có tính khoa học, khả thi và hiệu quả trong quản lý đào tạo ngành Kỹ thuật - Công nghệ (KT-CN) theo hướng đảm bảo chất lượng tại Trường ĐH Tây Đô thì có thể nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý đào tạo cũng như nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, góp phần đảm bảo chất lượng, đáp ứng nhu cầu nhân lực ngành KT-CN cho xã hội. Nhiệm vụ nghiên cứu 5. Nghiên cứu cơ sở lý luận Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý hoạt động đào tạo để nâng cao chất lượng đào tạo ngành kỹ thuật - công nghệ theo hướng đảm bảo chất lượng trong trường ĐH.
Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và trong nước. Nghiên cứu thực tiễn Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động đào tạo các bộ môn của ngành Kỹ thuật - Công nghệ tại Trường Đại học Tây Đô. Đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo 4 Đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo ngành Kỹ thuật - Công nghệ theo hướng đảm bảo chất lượng tại Trường Đại học Tây Đô. Thử nghiệm các biện pháp Tiến hành thử nghiệm một số biện pháp nhằm thăm dò và đánh giá tính cần thiết khả thi và hiệu quả của các biện pháp khi được áp dụng trong thực tiễn của nhà trường.
Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu trong luận án này không nghiên cứu các biện pháp quản lý đào tạo chung cho tất cả các ngành học theo hướng đảm bảo chất lượng mà chỉ giới hạn nghiên cứu 3 ngành kỹ thuật - công nghệ đang được đào tạo tại 3 bộ môn của trường: - Công nghệ Thông tin; - Điện – Điện tử; - Công nghệ Kỹ thuật Công trình xây dựng (dân dụng và công nghiệp). Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 7. Phương pháp tiếp cận 7. Tiếp cận thực tiễn Theo Trần Khánh Đức: “Thực tiển là tiêu chuẩn, là thước đo của chân lý”.
Vì vậy, các nghiên cứu trong khoa học giáo dục đều cần dựa trên các cơ sở thực tiễn của giáo dục và của đời sống xã hội, văn hóa, hoạt động nghề nghiệp. Đồng thời, hướng tới giải quyết những nhu cầu thực tế trong các loại hình hoạt động này [29, tr. Trong nghiên cứu các đề tài, luận án, muốn cho các biện pháp đề xuất được khả thi và hiệu quả thì phải căn cứ trên thực trạng, thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Tiếp cận mục tiêu Trong luận án, quan điểm tiếp cận mục tiêu thể hiện cách tiếp cận với mục tiêu đào tạo trong quản lý đào tạo ngành kỹ thuật - công nghệ trong trường đại học.
Trong quá trình quản lý đào tạo, việc xác định được mục tiêu đào tạo sẽ giúp chúng ta tìm ra được các nội dung giảng dạy phù hợp và tập trung được nguồn lực đủ mạnh để có thể đạt được mục tiêu đó. Tiếp cận phát triển Bản chất của vật chất, sự vật quanh ta là vận động, chính Ăngghen trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” đã khẳng định: “Không thể tưởng tượng được vật chất mà không có vận động”. Cách tiếp cận này sẽ giúp cho người cán bộ quản lý có cái nhìn chính xác, đúng đắn hơn về một sự việc, hiện tượng, con người được quản lý, tránh được các tư 5 tưởng chủ quan, bảo thủ. Trong giáo dục, các chương trình đào tạo phải luôn được cập nhật theo nhu cầu xã hội thì mới đào tạo ra được nguồn nhân lực có năng lực đáp ứng nhu cầu xã hội.
Tiếp cận theo năng lực thực hiện (Competency) - Khi tuyển sinh, cần tuyển những học viên có năng lực nhất định; nếu ruyển những học viên quá yếu sẽ ảnh hưởng khó khăn trong quá trình đào tạo. - Mục tiêu của Quản lý đào tạo ngành KT-CN tại Trường ĐHTĐ cũng là góp phần hình thành năng lực thực hiện về KT-CN cho các sinh viên tốt nghiệp đáp ứng theo nhu cầu của thị trường xã hội.