Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ QUỐC TẾ CHO HỌC SINH THPT TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Gi tr Vấn đề giá trị đã được nhiều tác giả trên thế giới và ở Việt Nam đặc biệt quan tâm vì phát triển con người thực chất là sự gia tăng giá trị của cá nhân, tạo động lực cơ bản cho sự phát triển bền vững xã hội. Đây là nội dung được rất nhiều lĩnh vực quan tâm nghiên cứu như xã hội học, giáo dục học, tâm lý học, quản lý giáo dục Từ những năm 1950, những nghiên cứu về giá trị bằng phương pháp thực nghiệm dựa trên lý thuyết Persons nhằm tìm kiếm các giá trị cơ bản (basic values) đã bước đầu được thực hiện và phát triển, qua đó những giá trị của cá nhân được cho là mang tính tương đối ổn định, một khi đã hình thành thì khó thay đổi bất chấp sự thay đổi của môi trường xung quanh.
Tuy nhiên, bước vào thập kỷ 70, trên cơ sở phân tích kết quả điều tra thực nghiệm, Ronald Inglehart đã xuất bản cuốn sách “Hiện đại hóa và hậu hiện đại hóa”, trong đó tác giả đã tập trung phân tích quá trình xã hội vận động với các biến đổi về văn hóa. Qua đó các giá trị cá nhân có thể thay đổi, dẫn đến đề cao các giá trị mới, lối sống mới [67]. Năm 1971, tuyển tập các bài báo “Những giá trị và tương lai, ảnh hưởng của những thay đổi công nghệ đối với các giá trị của Hoa Kỳ” đã được xuất bản ở New York trình bày các nghiên cứu của các môn khoa học nhân văn, các bộ môn khoa học lý luận và khoa học lịch sử nghiên cứu về giá trị [74; trang 12]. Từ những năm 1980, cuộc điều tra về giá trị ở châu Âu đã được tiến hành với sự tham gia của nhiều nước.
Trên cơ sở đó cuộc điều tra giá trị thế giới (WVS) từ năm 1990 bắt đầu được thực hiện, trong đó năm 2001 Việt Nam bắt đầu tham gia vào vòng 4 của dự án này với sự tham gia trả lời phiếu h i của 1000 người tại 200 xã phường thuộc 99 huyện của 20 tỉnh thành trong cả nước [45; trang 35]. 10 Ph hợp với kết quả nghiên cứu trên, chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước “Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển Kinh tế - Xã hội “KX – 07 (1991 – 1995) do GS. Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm đã đánh giá những thay đổi trong hệ thống giá trị nhân cách con người Việt Nam khi đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng xã hội mới ở nước ta. Đó là hệ thống giá trị nhân văn - đạo đức mang tính truyền thống (như lòng tự hào dân tộc, tự hào về truyền thống: yêu nước, bất khuất, tự lập, tự cường, lao động cần c , thông minh, hiếu học, trọng thầy, hiếu thảo, thủy chung, ý thức cộng đồng, nhân ái, vị tha, rộng lượng, d thích nghi, thích hài hòa ) kết hợp với những giá trị nhân văn hiện đại (như yêu hòa bình, tự do, việc làm, gia đình, sức kh e, an ninh, công bằng, công lý, sống có mục đích và niểm tin, ý chí vươn lên, lập nghiệp, học vấn, trí tuệ, nhạy cảm với cái mới, sẵn sàng tiếp thu cái mới, hướng vào nghề có thu nhập cao, năng động, sáng tạo, thích nghi nhanh).
Kết quả nghiên cứu cũng nêu rõ những hạn chế, nhất là chuyển đổi thang giá trị khi xu hướng “hướng ngoại” bao tr m nhiều lĩnh vực đời sống, d bắt chước, lai tạp cũng như xu hướng “hưởng thụ vật chất” ngày càng gia tăng, s ng bái đồng tiền, xa xỉ, lãng phí [33; trang 97]. Từ đó, tác giả Phạm Minh Hạc và nhóm nghiên cứu đã thử phác thảo một mô hình nhân cách con người Viêt Nam thế kỷ XXI với những giá trị đặc trưng: có lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; có ý chí kiên cường, có hoài bão lớn lao phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, có tư duy sáng tạo và óc thực nghiệm, có k năng thực hành gi i, tay nghề cao, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm cao, có lòng nhân ái, tôn trọng và hợp tác được với người khác, có sức kh e, có khả năng tự hoàn thiện không ngừng, năng động và thích ứng, có tinh thần pháp luật và ý thức công dân, có ý thức bảo vệ môi sinh, biết yêu cái đẹp [33; trang 106]. Hiện nay, toàn cầu hóa đang là xu thế chung của thế giới. Tham gia hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa trên cơ sở giữ vững bản sắc dân tộc và hội nhập hiệu quả 11 phát triển toàn diện con người phải đáp ứng được yêu cầu của toàn cầu hóa đặt ra, theo đó phổ giá trị con người không chỉ giới hạn trong khuôn khổ phạm vi mỗi quốc gia mà còn bao hàm rất nhiều mối quan hệ, hướng tới đáp ứng được những đòi h i, thách thức đặt ra của tất cả các nước trên thế giới [33; trang 75].
Xung quanh vấn đề “Thế nào là con người Việt Nam thế kỷ XXI”, các nhà khoa học tại “Bàn tròn” của tạp chí Thế giới mới đã nhấn mạnh các yêu cầu sau đối với con người Việt Nam thế kỷ XXI: - Yêu nước - Đạo đức - Tinh thần khoa học - Độc lập suy nghĩ - Ý thức kỷ luật - Con người hạnh phúc, tự do hơn - Làm cho dân tộc phú cường - Khả năng thuyết phục - Tài năng đích thực [75]. Nghiên cứu giá trị ở thế hệ trẻ - nguồn nhân lực đặc biệt quan trọng cho sự phát triển của đất nước luôn được đặc biệt quan tâm trong nhiều công trình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của đề tài “Chuẩn mực và giải pháp hình thành đạo đức con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa“ với sự khảo sát đối với 353 học sinh, sinh viên, 194 giáo viên và 119 cán bộ quản lý xã hội về thực trạng đạo đức của học sinh, sinh viên cho thấy cả về nhận thức cũng như biểu hiện trong lối sống, thang giá trị đạo đức truyền thống có sự đảo lộn. Nếu như trước đây, trong ý thức, thái độ cũng như trong hành động của nhân dân ta nói chung, Thanh niên, học sinh, sinh viên nói riêng bao giờ cũng đặt Tổ quốc, xã hội lên trên tất cả các quan hệ khác thì kết quả nghiên cứu của đề tài lại cho thấy thứ tự đó đã có sự thay đổi theo chiều hướng các quan hệ đối với người thân, người ruột thịt được đặt lên trước [30, trang 35].
12 Các báo cáo tại Hội thảo khoa học [79] đã khẳng định các giá trị văn hóa cũng như bản sắc văn hóa được hình thành và định hình trong cả một thời gian dài của lịch sử, do đó là yếu tố khá bền vững. Tuy nhiên, các giá trị đó không phải là bất biến, mà cần được nhìn trong trạng thái “động” theo sự biến đổi của xã hội. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang chuyển đổi từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại, trong xu hướng Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Gi o d c gi tr Toàn cầu hóa gắn liền với mở rộng hội nhập, mở ra nhiều cơ hội song cũng đầy thách thức đối với mỗi quốc gia.
Do đó, giáo dục các giá trị nói chung và cho người học trong nhà trường nói riêng lại càng có một ý nghĩa đặc biệt cần thiết. Các nước Nam M từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đã sớm đặt vấn đề giáo dục giá trị. Trên cơ sở đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiên cứu giá trị và giáo dục giá trị, năm 1993 – 1994 chính phủ Jamaica đã công bố Chương trình giá trị và thái độ. Nước Anh có Hội đồng giáo dục giá trị nhằm mục đích nâng cao nhận thức về giá trị và giáo dục giá trị [32, trang 97].
Công trình nghiên cứu “Giáo dục giá trị cho người Philippin” đã xác định cơ cấu giáo dục giá trị dựa trên sự hiểu biết về con người Philippin trong hoàn cảnh lịch sử và văn hóa cụ thể. Nhiệm vụ của giáo dục là tạo điều kiện cho người dân Philippin phát triển được tiềm năng của họ, góp phần vào việc phát triển văn hóa, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng các cơ sở giáo dục và đào tạo ph hợp để đưa Philippin thành một đất nước nhân văn và công bằng [45]. Trong những thập kỷ gần đây, giáo dục giá trị ngày càng được đặc biệt quan tâm trong nhà trường ở các quốc gia. Để chuẩn bị cho giáo dục thế kỷ XXI, năm 1986 – 1987, UNESCO đã đề nghị The club of Rome tiến hành điều tra Quốc tế về giá trị đạo đức của con người với mục đích hướng dẫn những người làm công tác giáo dục giảng dạy các vấn đề về giáo dục đạo đức và sử dụng vào hệ thống giáo 13 dục của nhiều nước khác nhau, ở tất cả những nơi mà thế hệ trẻ cần được giáo dục về giá trị đạo đức [79].
Cuốn tài liệu “Giá trị trong hành động” của Trung tâm canh tân và công nghệ giáo dục thuộc Tổ chức Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á (SEAMEO) xuất bản năm 1992 đã phân tích những quan điểm, mục tiêu, chương trình và biện pháp đưa giáo dục giá trị vào nhà trường và cộng đồng của các nước Indonesia, Philippin, Singapore, Thái lan, Malaysia [68]. Trên cơ sở khẳng định vấn đề giáo dục giá trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự phát triển toàn diện nhân cách người học, các quốc gia đều chú trọng triển khai tích cực nội dung giáo dục giá trị trong nhà trường. Từ năm 1999, Úc đã có chương trình giáo dục giá trị trong nhà trường đồng thời c ng có cả mạng giáo dục giá trị (Values Educators Network). Năm 2003, Úc thành lập Hội giáo dục giá trị sống với nhiều dự án về nghiên cứu giá trị và giáo dục giá trị.
Chính phủ Úc thành lập Qu xuất bản xây dựng giá trị cho tất cả các trường [42; trang 13].