CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THPT TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trong dạy học trên thế giới Nghiên cứu về NL và phát triển NLGQVĐ&ST đã được nhiều nhà Tâm lý học, Triết học, Giáo dục học trên thế giới tìm hiểu và đưa ra định nghĩa khái niệm về NL và NL của HS như các tác giả F. Từ đó, các tác giả đã đề cập đến các NL cần phát triển ở HS đảm bảo cho quá trình "học tập suốt đời", đặc biệt là việc phát triển NLGQVĐ&ST cho HS.
Từ đó, khái niệm và hệ thống các NL cần phát triển cho HS phổ thông đã được Tổ chức Hợp tác và Phát triển châu Âu (OECD) xác định. Howard Gardner [93] đề cập đến khái niệm NL qua việc phân tích 8 lĩnh vực trí năng của con người, đó là ngôn ngữ, logic toán học, âm nhạc, không gian, vận động cơ thể, giao tiếp, tự nhận thức, hướng tới thiên nhiên. Để giải quyết một vấn đề "có thực" trong cuộc sống, con người phải kết hợp các mặt trí năng liên quan đến nhau, sự kết hợp đó tạo nên NL cá nhân. Theo các tiếp cận khác nhau, khái niệm NL đã có nhiều định nghĩa được đưa ra bởi các tổ chức, cá nhân như: OECD (2002) [98], Bộ Giáo dục Canada (2004) [49], F.
Trong các định nghĩa này, các tác giả đều có nhận định chung NL là khả năng của mỗi cá nhân trong việc tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ để thực hiện thành công một nhiệm vụ nào đó trong một bối cảnh xác định. Với HS phổ thông F.Weinert [103] đã xác định: NL của HS THPT là sự kết hợp hợp lí kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề. Từ đó, ông cho rằng NL có cấu trúc gồm NL chuyên môn, NL phương pháp, NL xã hội và NL cá thể. Các quan điểm về NL của các nhà khoa học 7 đều có sự thống nhất về nhận định: NL phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được [88], [93], [103]… Từ các quan điểm này, chương trình giáo dục phổ thông được thiết kế theo hướng tiếp cận NL bao gồm các NL chung (general competence), NL chuyên biệt (subject - specific compentence) và xác định khung NL cần phát triển cho HS phổ thông.
Tổ chức OECD đã đưa ra khung NL cần hình thành và phát triển cho HS phổ thông gồm: NL liên môn (khả năng học các nội dung môn học có kiến thức liên môn); NL linh hoạt sáng tạo (khả năng học cách thức làm việc có PP học, làm việc hiệu quả); NL sử dụng máy móc một cách thông minh; NL xã hội (khả năng giáo tiếp, ứng xử); NL cá nhân. Ở một số quốc gia như Mĩ, Hàn Quốc, Singapore, Úc, Canada… xác định NL chủ chốt của HS THPT gồm 3 nhóm NL [dẫn theo 40]: - Hành động một cách tự chủ sáng tạo: (1) có khả năng bảo vệ và khẳng định quyền, lợi ích, trách nhiệm, nhu cầu cá nhân và giới hạn cho phép; (2) có khả năng xây dựng và thực hiện kế hoạch cá nhân và các DA; (3) có khả năng hành động hiệu quả trong điều kiện, hoàn cảnh thay đổi. - Sử dụng công cụ một cách thông minh: (1) có khả năng sử dụng ngôn ngữ, biểu tượng và các văn bản một cách tích cực; (2) có khả năng kiểm soát kiến thức và thông tin; (3) có khả năng sử dụng công nghệ mới một cách phù hợp. - Tương tác hòa đồng với nhiều nhóm xã hội: (1) có khả năng thiết lập quan hệ với người khác; (2) có khả năng hợp tác; (3) có khả năng điều chỉnh và hòa giải các mâu thuẫn.
Như vậy, các nhà nghiên cứu ở các nước đã đề cập đến khái niệm với các khía cạnh khác nhau của NL và NLGQVĐ&ST của người học ở các cấp học, trên cơ sở đó để xây dựng khung NL cần phát triển cho HS phổ thông. Mục tiêu giáo dục của các nước có thể khác nhau nhưng đều hướng đến việc phát triển NL cơ bản, cốt lõi cho HS để sau quá trình đào tạo HS có được thái độ, hành vi làm chủ bản thân và phát triển được trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Nghiên cứu về phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trong dạy học ở Việt Nam Ở Việt Nam, khái niệm NL và các quan điểm về NL đã sớm được các nhà nghiên cứu đề cập và đưa ra dưới các góc độ khác nhau. Khái niệm NL đã được nêu ra trong từ điển tiếng việt [50] và từ điển Giáo dục học [26], theo các tài liệu này thì: “NL là khả năng, điều kiện chủ quan, tự nhiên sẵn có để thực hiện một công việc nào đó, đồng thời NL là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.
Khái niệm này cũng được thể hiện trong nghiên cứu của tác giả Phạm Minh Hạc [25]: “NL được thể hiện bằng khả năng thực hiện thành công một loại hoạt động, một nhiệm vụ được đặt ra. Theo các nghiên cứu của các tác giả Phạm Minh Hạc [25], Nguyễn Văn Lê [38], Phan Thị Luyến [40], Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt [46], Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn [75] thì NL luôn gắn với hoạt động trong một lĩnh vực nào đó. NL bao gồm tri thức, kĩ năng, thái độ kết hợp chặt chẽ và hỗ trợ cho nhau; NL ở mỗi người sẽ khác nhau. NL của HS được hình thành và phát triển trong quá trình giáo dục và bằng quá trình giáo dục.
Trong quá trình giáo dục, những NL cơ bản, cốt lõi nhất sẽ được hình thành và làm nền tảng cho sự phát triển các NL khác trong tương lai. Các nhận định rút ra từ các nghiên cứu của các tác giả trên tuy có sự khác nhau ở một số khía cạnh nhất định nhưng đều có chung một quan điểm như: NL và NLGQVĐ&ST đều bao gồm những kiến thức, kĩ năng, thái độ hay đặc tính cá nhân cần thiết để thực hiện thành công một hoạt động cụ thể. Những yếu tố này của NL nói chung và NLGQVĐ&ST phải quan sát hay đo lường, đánh giá được để có thể phân biệt được người có NL và người không có NL. Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã thể hiện quan điểm về NL, mô tả các NL chung, NL cốt lõi, NL chuyên môn của học sinh các cấp học trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [10].
Nghiên cứu về NL và NLGQVĐ&ST của HS THPT, tác giả Nguyễn Công Khanh [36] xác định NL là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí để thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho 9 chính các em trong cuộc sống. Tác giả Nguyễn Thị Lan Phương [54] đã xác định khái niệm, cấu trúc của NL và NLGQVĐ&ST của HS. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã xác định: NL người học là khả năng kết hợp các kiến thức, kĩ năng (nhận thức và thực hành), thái độ, động cơ, xúc cảm và giá trị đạo đức để thực hiện các nhiệm vụ học tập trong bối cảnh, tình huống thực tiễn một cách hiệu quả. Từ đó, tác giả đã xác định các thành tố, biểu hiện của NLGQVĐ&ST.
Khi chú trọng đến hiệu quả hành động thì tác giả Nguyễn Thị Minh Phương [52] lại cho rằng: NL cần đạt được của HS phổ thông là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị được cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có kết quả. Như vậy, những quan điểm trên đều xem xét khái niệm NL và NLGQVĐ&ST của HS THPT theo các yếu tố tiềm năng của con người như: kiến thức, kĩ năng, thái độ. Những yếu tố này rất cần cho yêu cầu của mỗi hoạt động học tập và giao tiếp của HS để đạt hiệu quả cao trong những tình huống khác nhau trong học tập và vận dụng vào thực tiễn. NL của HS là một cấu trúc động (trừu tượng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kĩ năng ở các môn học mà còn cả niềm tin, giá trị đạo đức, trách nhiệm xã hội thể hiện qua tính sẵn sàng hành động của các em trong hoạt động học tập, giải quyết vấn đề thực tiễn trong những điều kiện đang thay đổi.
Do vậy, phát triển NL nhất là NLGQVĐ&ST của HS là mục đích của quá trình dạy học theo định hướng phát triển NL người học hiện nay mà giáo dục nước ta đang hướng tới. Từ các quan điểm về NL của HS, các nghiên cứu của Nguyễn Công Khanh [36], Nguyễn Thị Minh Phương [52] đã đưa ra khung NL của HS THPT gồm hai nhóm NL chung cốt lõi: - Nhóm NL nhận thức (cốt lõi): Gồm các NL gắn liền với quá trình tư duy (quá trình nhận thức), như: (1) NL ngôn ngữ (giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ); (2) NL tính toán và suy luận logic, tư duy trừu tượng; (3) NL giải quyết vấn đề; (4) NL sáng tạo; (5) NL cảm xúc; (6) NL hợp tác; (7) NL tự học; (8) NL sử dụng công nghệ; (9) NL ngoại ngữ; (10) NL siêu nhận thức (nghĩ về cách suy nghĩ). - Nhóm các NL phi nhận thức (cốt lõi): Gồm các NL không thuần tâm thần, mà có sự pha trộn giữa các phẩm chất nhân cách rất cần thiết cho sự thành công trong 10 trường học và cuộc sống, như: (1) NL vượt khó; (2) NL thích ứng, ứng phó stress; (3) NL quan sát, NL tập trung chú ý; (4) NL quản lý (lãnh đạo, phát triển bản thân). Từ các nghiên cứu này cùng với các nhóm NL chủ chốt của HS THPT của một số nước phát triển [40], Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể [10] đã xác định NL cốt lõi của HS phổ thông là hệ thống NL cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả.