CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Đọc hiểu văn bản Trên thực tế, thuật ngữ “đọc hiểu” (Reading comprehension) được đưa vào sử dụng trong nhà trường ở Việt Nam gắn liền với sự thay đổi Chương trình, SGK phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ những năm 2000. Hiện nay, quan điểm về hoạt động đọc hiểu vô cùng đa dạng.
Điểm qua những công trình khoa học của các nhà nghiên cứu cho thấy, có ý kiến cho rằng: “Đọc hiểu là một kĩ năng học tập”, có ý kiến khác lại nhấn mạnh: “Đọc hiểu là một hành vi ngôn ngữ”, một “kĩ năng tích hợp”. Theo Anderson & Pearson (1984), đọc hiểu được xem là một khả năng nhận thức phức tạp, đòi hỏi khả năng tích hợp thông tin từ văn bản với kiến thức trước đó của người đọc. Durkin (1993) cũng cho rằng đọc hiểu là quá trình tư duy có tính chủ động, trong đó ý nghĩa được tạo nên thông qua sự tương tác giữa văn bản và người đọc. Theo Đại Từ điển tiếng Việt (1998), “văn bản” là “Bản chép tay hoặc in ấn với một nội dung nhất định, thường để lưu lại lâu dài” [35, tr.
Từ những quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực đọc hiểu văn bản, chúng tôi nhận thấy rằng, đọc hiểu văn bản là một hoạt động nhằm để chiếm lĩnh giá trị của văn bản. Trong quá trình đọc hiểu văn bản, thông qua hoạt động tri giác, cảm thụ, tiếp nhận, sáng tạo… đọc văn chương chính là tháo gỡ mã của các kí hiệu văn chương trong văn bản để tìm ra ý nghĩa của tác phẩm đó thông qua cấu trúc của văn bản. Năng lực và dạy học theo định hướng phát triển năng lực 1. Năng lực và phân loại năng lực a.
Khái niệm năng lực Khái niệm “năng lực” (Tiếng Anh là “competency”) được bắt nguồn từ tiếng La tinh “competencia”. 15 Theo quan niệm Triết học, năng lực được hiểu theo một nghĩa rộng; nó được coi là những đặc tính tâm lí của đối tượng điều khiển hành vi và chính là điều kiện sống của đối tượng đó. Cũng theo quan điểm này, năng lực của mỗi con người được coi là sản phẩm của sự phát triển xã hội, do bộ não quyết định và do trình độ phát triển lịch sử của loài người quyết định. Qua đó, năng lực được cho là không tách rời với các tổ chức lao động mang tính chất xã hội và với hệ thống giáo dục của tổ chức đó hoặc tương ứng với tổ chức đó.
Từ góc nhìn Tâm lý học, năng lực được coi như một tập hợp các phẩm chất hoặc tính chất của tâm lí cá nhân, trở thành điều kiện bên trong, mở ra điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện hoạt động/dạng hoạt động nhất định; các đặc điểm hay thuộc tính nổi bật của cá nhân phù hợp, đáp ứng được những yêu cầu của một hoạt động cụ thể để đảm bảo tạo nên một kết quả tốt. Theo quan niệm của Giáo dục học, năng lực được hiểu là những khả năng thông qua quá trình hình thành và phát triển, nó tạo điều kiện cho con người thành công hoặc có thành tựu trong một hay nhiều các hoạt động về trí não, thể lực… Năng lực được bộc lộ qua khả năng thực hiện một hoạt động hay nhiệm vụ nào đó. Trong Lý luận dạy học hiện đại, người ta quan niệm năng lực là giao thoa của trí tuệ, kĩ năng, kinh nghiệm, sự can đảm và tinh thần trách nhiệm. Trên thế giới và ở Việt Nam, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực.
Tuy nhiên, năng lực có thể hiểu đơn giản là khả năng hoàn thành nhiệm vụ được liên kết với một hoạt động cụ thể. Năng lực đóng vai trò quan trọng trong nhân cách, mang đặc điểm riêng của cá nhân và thể hiện tính chủ quan trong hành động. Năng lực hình thành và phát triển theo quy luật của sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân; trong đó, tính tích cực và khả năng giao tiếp của cá nhân đóng vai trò quyết định. Sự kiên trì trong học tập, rèn luyện và tích lũy kinh nghiệm trong hoạt động thực tế là những yếu tố giúp mỗi người đạt được năng lực của mình.
Phân loại năng lực Việc phân loại năng lực luôn là một vấn đề phức tạp và không dễ dàng. Tùy thuộc vào các phương pháp tiếp cận khác nhau, năng lực có thể được chia thành các hình thức và loại khác nhau, từ đó tạo ra nhiều kiểu năng lực đa dạng. Tuy nhiên, phân biệt năng lực thành năng lực chung và năng lực riêng vẫn là phương pháp phổ biến nhất. Chương trình giáo dục của nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam, đều ứng dụng cách phân loại này để đánh giá năng lực.
Cụ thể như sau: Năng lực chung (general competence), tên gọi khác năng lực xuyên chương trình (cross-curricular competencies) là năng lực thiết yếu nhằm giúp cho con người có thể được sống và làm việc trong xã hội; loại năng lực hình thành, phát triển thông qua nhiều môn học hoặc liên quan đến nhiều môn học. Năng lực riêng (specific competence) là những năng lực cụ thể và chuyên biệt hình thành và phát triển thông qua một môn học hay một lĩnh vực nào đó. Nhằm mục đích phân biệt với năng lực chung, chương trình Québec đề cập đến năng lực riêng với tên gọi khác là là năng lực môn học cụ thể (Subject- specific competencies). Dựa trên cơ sở lý thuyết và nghiên cứu về giáo dục, tâm lý học, phương pháp dạy học Ngữ văn, cũng như thành tựu về Văn học, Ngôn ngữ học và kinh nghiệm xây dựng chương trình môn Ngữ văn trong vài thập kỷ qua, chương trình giáo dục Ngữ văn 2018 đặt mục tiêu rèn luyện các kỹ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) là trọng tâm trong quá trình học tập của học sinh.
Môn Ngữ văn giúp học sinh khám phá bản thân, hiểu biết thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, phát triển cuộc sống tâm hồn phong phú, có ý thức về giá trị của tiếng Việt và Văn học, và có nhận thức về cội nguồn và bản sắc dân tộc. Ngoài ra, môn Ngữ văn còn góp phần vào việc phát triển các năng lực tự chủ, học tập, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề, sáng tạo, và năng lực ngôn ngữ và văn học của học sinh. 17 Đối với môn Ngữ văn ở trường THCS, những phẩm chất được hình thành và phát triển cho HS nhằm giúp các em: - Tiếp tục phát triển, mở rộng những phẩm chất tốt đẹp được xây dựng ở cấp Tiểu học, đặc biệt là khả năng tự hào về lịch sử dân tộc và văn học dân tộc, ước mơ và khát vọng, tinh thần tự học và tự trọng, ý thức công dân và tôn trọng pháp luật. - Đồng thời, tiếp tục phát triển các năng lực chung và năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học đã được xây dựng ở cấp tiểu học với yêu cầu cao hơn.
Trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ, đòi hỏi: - Khả năng phân biệt các loại văn bản: văn học, nghị luận và thông tin; - Khả năng viết được đoạn và bài văn tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, nhật dụng hoàn chỉnh, mạch lạc, logic, đúng quy trình và có sự kết hợp các phương thức biểu đạt; - Khả năng đọc hiểu nội dung tường minh và hàm ẩn của các loại văn bản; - Khả năng nói dễ hiểu, mạch lạc, thái độ tự tin, phù hợp trong giao tiếp; - Khả năng nghe hiểu với thái độ phù hợp. Trong việc phát triển năng lực Văn học, đòi hỏi: - Khả năng phân biệt các thể loại truyện, thơ, kí, kịch bản văn học và một số tiểu loại cụ thể; - Khả năng nhận biết đặc điểm của ngôn Ngữ văn học và phân tích tác dụng của yếu tố hình thức và biện pháp nghệ thuật trong mỗi thể loại văn học; - Khả năng nhận biết giá trị biểu cảm, nhận thức và thẩm mỹ của văn học; - Khả năng phân tích các yếu tố hình tượng, nội dung và hình thức của tác phẩm văn học; - Khả năng tạo ra một số sản phẩm văn học. Về năng lực đọc hiểu, đọc hiểu là quá trình nhận thức phức tạp, đòi hỏi sự tương tác tích cực giữa người đọc và văn bản. Nó yêu cầu kết hợp việc đọc và phát triển khả năng giải thích, phân tích, tổng hợp và biện luận với đúng sai 18 về logic.
Đọc hiểu cũng đòi hỏi khả năng tư duy và biểu đạt. Khi đọc các tác phẩm văn chương, chúng ta cần hiểu rõ nội dung của văn bản và đánh giá tư tưởng mà tác giả muốn truyền đạt. Mục đích cốt lõi của việc đọc văn bản là hiểu, tức là có thể kiến tạo ý nghĩa của văn bản và vận dụng, chuyển hóa những gì tiếp nhận thành “sở hữu” của bản thân người đọc; đưa kết quả đọc vào thực tiễn đời sống cá nhân, đạt được những mục đích phong phú mà người đọc đặt ra, phát hiện và phát triển tiềm năng của người đọc. Tuy các hướng tiếp cận để phân loại năng lực và phạm vi phân loại không đồng đều và thống nhất giữa các cách phân loại song nhìn chung chúng đều tập trung nhắm đến các năng lực nghề nghiệp đặc thù mà mỗi người cần có trong một lĩnh vực cần có.
Việc phân loại năng lực không chỉ dựa trên các cơ sở về Triết học, Tâm lí học, Giáo dục học mà chính nó cũng là một cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về năng lực nghề nghiệp của giáo viên hiện nay và định hướng cho tương lai. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực Kể từ những năm 90 của thế kỉ XX, dạy học PTNL của học sinh đã được nghiên cứu và thảo luận tương đối sôi nổi, đặc biệt, sau khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 29-NQ/T.Ư vào năm 2013 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo ở Việt Nam, lại càng trở thành xu hướng giáo dục được quan tâm trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, đã có sự áp dụng của việc dạy học theo hướng PTNL trong chương trình giảng dạy. Tuy nhiên, không phải tất cả các giáo viên phổ thông hiểu đúng và rõ ràng về ý nghĩa của việc dạy học PTNL.
Phát triển năng lực là quá trình phát triển khả năng hoàn thành nhiệm vụ được đề ra và phát triển nhân cách, trong đó hoạt động tích cực và tương tác của cá nhân đóng vai trò quan trọng. Đây là quá trình phát triển sự kiên nhẫn trong học tập, rèn luyện và tích lũy kinh nghiệm trong các hoạt động thực tế.