CHƯƠNG 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐÈ NGHIÊN cúu VÀ THỤC TIẺN 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Thông qua tìm hiếu, ở Việt Nam có nhiều tác già đã nghiên cứu về dạy học khám phá, dạy học phát triển năng lực, năng lực tư duy và lập luận toán học. Tìm hiểu về dạy học khám phá, Nguyễn Văn Hiến (2017) trình bày quan niệm, điều kiện để tổ chức dạy học khám phá có hướng dẫn và vận dụng phương pháp này thông qua một số ví dụ khi dạy học nội hàm khái niệm, giải bài tập về tam giác cân Toán 7 trên Tạp chí Giáo dục số 158 (kì 2-3/2007).
Tác giả Nguyễn Phú Lộc (2010) đã trình bày quan niệm về dạy học khám phá và 3 mô hình dạy học khám phá 1 khái niệm • trên Tạp • toán học • Đại • chí Khoa học •• học cần Thơ - ra số 14 năm 2010 (tr. Và gần đây, Quách Thị Sen (2021) cũng đã tìm hiểu về bản chất, đặc điểm của phương pháp dạy học khám phá và ứng dụng để khám phá công thức cộng xác suất, công thức Bernoulli khi dạy học xác suất thống kê cho đối tượng sinh viên đại học trên Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam. về việc dạy học phát triển năng lực, Nguyễn Thị Kim Thoa (2015) đã trình bày kỹ lưỡng về khái niệm của năng lực, nguyên tắc khi dạy học theo hướng phát triển năng lực và đề xuất một quy trình dạy học theo hướng phát triền năng lực toán học ở cấp tiểu học trên Tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM. Bên cạnh đó, Phạm Thị Kim Anh (2021) đã trình bày đầy đù về bản chất, đặc điểm và những dấu hiệu đặc trưng của việc dạy học theo hướng phát triến năng lực cho học sinh ớ các lửa tuổi và môn học trên bài đăng tại Tạp chí Khoa học Giáo dục ĐHSP HN.
Việc bồi dưỡng năng lực tư duy đã được các tác giả Nguyễn Thanh Hưng, Ngô Tùng Nhân (2019) trình bày qua đề tài “Rèn luyện thao tác tư duy cho học sinh cho học sinh trong dạy học chương “Tứ giác” (lớp 8) ớ trường Trung học cơ sở”. Tác giả Lê Thị cẩm Nhung (2020), trên Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam - số 32 tháng 8/2020 (tr.37-42), đã đề xuất một số biện pháp dạy học yếu tố hình học ở tiểu học theo hướng phát triển năng lực tư duy và lập luận Toán học cho học sinh. Trên Tạp chí Giáo dục (2023, 23(7), tr.1-5), các tác giả Nguyễn Văn 6 Thuận, Nguyễn Thị Mỹ Hằng, Nguyễn Thị Xoan đã nghiên cứu về việc phát triển năng lực tư duy và lập luận Toán học trong dạy học chủ đề “Đại số tổ hợp” ở trường Trung học phổ thông. Như vậy, tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của luận văn như dạy học khám phá, dạy học phát triển năng lực, và năng lực tư duy lập luận, nhưng chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu vấn đề “Dạy học khám phả chủ đề Hình học trực quan Lớp 6 theo hưởng phát triển năng lực tư duy, lập luận toán học ” 1.
Năng lực tư duy và lập luận toán học 1. Năng lực Trong CTGDPT 2018, các nhà giáo dục chú trọng vào việc phát triển năng lực. Vậy, năng lực là gì? vẫn luôn có nhiều cách tiếp cận để định nghĩa năng lực theo nhiều cách khác nhau. Theo Benjamin Bloom (1956) - người khai sáng nhũng bước phát triển đầu tiên về năng lực, năng lực được cấu thành từ ba nhóm chính: Kiến thức (Knowledge) - liên quan đến khả năng tư duy; Kỳ năng (Skills) - liên quan đến khả năng thao tác; Thái độ (Attitude) - liên quan đến phạm vi tình cảm, cảm xúc.
Theo ông, năng lực chính là tố hợp của kiến thức, kĩ năng và thái độ của mồi cá thế. Tiếp thu tư tưởng đó và ứng dụng ở một số chương trình giáo dục ở nước ngoài, trong Báo cáo nghiên cứu của S.Shaw (2021), các tác giả đã trình bày về định nghĩa của năng lực là “khả năng tích họp và áp dụng các kiến thức, kĩ năng, các yếu tố tâm lý phù họp (ví dụ: niềm tin, thái độ, giá trị, và động lực’’ với từng bối cảnh cụ thể' để phù hợp với đa dạng bối cảnh giáo dục trong khuôn khồ của Khảo thí của Chương trình Cambridge. Theo Chương trình Giáo dục của Bang NSW, úc cũng đã định nghĩa về NL bao gồm các kiến thức, kĩ năng, thải độ và cách ứng xử để hỗ trợ người học sống và làm việc thành công. Khái niệm về NL cũng được Bộ GD-ĐT nêu rõ trong Chương trình Giáo dục phổ thông (2018) định nghĩa là “thuộc tỉnh cả nhân.
cho phép con người huy động 7 tông hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhãn khác như hứng thủ, niềm tin, ý chi, .” Như vậy, tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng nhìn chung các quan niệm đều có điểm giống nhau khi định nghĩa NL là sự tổng hòa của các yếu tố: kiến thức, kĩ năng, và các yếu tố tâm lý tinh thần khác như: thái độ, niềm tin, ý chí,. Khái niệm Giống với năng lực, có nhiều cách tiếp cận và khái niệm về tư duy. Dưới góc độ sinh lý học, tư duy là quá trình xử lý thông tin của hệ thần kinh, thế hiện qua việc tạo ra các mối liên hệ giữa các thông tin đã được ghi nhớ, lựa chọn và kích hoạt chúng hoạt động để nhận thức thế giới xung quanh, từ đó điều chinh hành vi phù hợp với môi trường sống. Dưới góc độ tâm lý học, tư duy là một quá trình nhận thức bậc cao ở con người, phản ánh nhũng thuộc tính, bản chất, mối liên hệ và quan hệ bên trong, có tính chất quy luật cùa sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.
Tư duy còn được biết đến như “cữm nhận" khi chúng ta tiếp nhận những thông tin, những dữ kiện diễn ra trong các hoạt động, các mối quan hệ. Tư duy còn được cho rằng ‘‘giai đoạn cao của nhận thức. bằng các hình thức như biêu tượng, phản đoản, suy lí,. Các thao tác tư duy Lí luận và thực tiễn dạy học đều cho thấy, sự phát triến tư duy nói dung được hình thành trên các đối tượng của tư duy là những hình ảnh, biểu tượng, kí hiệu,.
thông qua sự rèn luyện thành thạo các thao tác tư duy chủ yếu gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hỏa,. kết họp với các phương pháp tư duy như quy nạp, suy diễn, loại suy. Thực hiện thao tác phân tích đế quan sát kỳ và phân tích về các đặc điềm độ dài cạnh, góc, tính chất song song và vuông góc cùa các đối tượng trong hình phẳng 2D. Ngoài ra, khi thực hiện làm bài tập hoặc trả lời câu hỏi, cần thực hiện thao tác 8 phân tích đề bài để nhận rõ yêu cầu cần làm, từ đó giải quyết từng phần để đến được đáp án cuối cùng.
Thực hiện thao tác tổng họp sau khi đã thực hiện thao tác phân tích để tổng kết lại các đặc điểm, thành phần riêng lẻ thành một thể thống nhất. Ngoải ra, thực hiện tổng họp tất cã các dữ liệu, thông tin đã cho từ yêu cầu của câu hởi, đề bài, từ đó tiến hành trả lời câu hỏi hoặc giải bài tập. Thực hiện thao tác so sánh đế thiết lập sự giống và khác nhau giữa các đối tượng, từ đó tạo nên đặc điềm của các hình phẳng 2D. Việc so sánh cũng giúp học sinh quan sát và nhận ra tính đối xứng của một vật thề, hình vẽ dễ hơn.
Thực hiện thao tác khái quát hóa để khái quát các hiện tượng riêng lẻ thành hiện tượng, đặc điểm tổng quát. Từ đó, áp dụng các đặc điểm này để nhận diện các hình vẽ cho các hình 2D, tính đối xứng một cách dễ dàng hơn. Thực hiện phương pháp quy nạp và diễn dịch để suy ra kết quả đối với những bước trung gian hoặc các bài tập đơn giản; và thực hiện phương pháp loại suy đối với các loại câu hỏi trắc nghiệm khi chưa thực sự chắc chắn và vẫn còn phân vân. Các cấp độ tư duy Theo nhà giáo dục Mỹ Benjamin s.Bloom, tư duy của con người gồm 6 cấp độ, thường được gọi tắt là Thang Bloom (1956) hay Bảng phân loại Bloom (Bloom’ Taxonomy): Kiến thức (Knowledge), Lĩnh hội (Comprehension), ứng dụng (Application), Phân tích (Analysis), Tống hợp (Synthesis), Đánh giá (Evaluation).
Vào giữa thập niên 1990, Lorin Anderson, một học trò của Benjamin Bloom, đã cùng một số cộng sự đề xuất sự điều chỉnh thang này (Pohl, 2000), bao gồm: Ghi nhớ (Remembering), Hiếu (Understanding), Áp dụng (Applying), Phân tích (Analyzing), Đánh giá (Evaluating), Sáng tạo (Creating) 9 (1956) (2001) Thang đo Bloom nguyên thủy Thang đò Bloom cời tiến Phức tọp Sự đánh Sáng giá ____ tạo Sự tổng. Đánh giá hợp L Tưdi/mưcdộcoo Sự phân tích Phân tích Tưdurmứcđộthổp Sự ứng dụng Áp dụng Sự lĩnh hội Hiểu Kiến thức Ghi nhớ Đơn giàn Danh tử * Động từ Hình 1. Thang Bloom (hguôn: blog.vn) Cấp độ 1: Ghi nhớ (Remembering): tái hiện và nói lại các thông tin đã được tiếp nhận trước đó - ghi nhớ và nhắc lại đặc điếm của hình, nhận biết phương án đúng. Cấp độ 2: Hiểu (Understanding): có thể hiểu được ý nghĩa của thông tin, thể hiện qua khả năng diễn giải, suy diễn, liên hệ, khái quát - tóm tắt đề bài, giải thích một khắng định, nhận biết và phân biệt giữa các đối tượng.
Cấp độ 3: Áp dụng (Applying): sử dụng thông tin đã biết để giải quyết một vấn đề, tình huống mới - áp dụng một công thức để thực hiện tính toán. Cấp độ 4: Phân tích (Analyzing): chia vấn đề thành những phần nhở hơn và liên hệ tới tống quát ban đầu - phân tích các thông tin đề bài và hình vẽ đưa ra đế thực hiện tính toán và trả lời câu hỏi. cấp độ 5: Đánh giá (Evaluating): đánh giá thông tin dựa trên các tiêu chí, chuẩn mực, và tự đưa ra những nhận xét và kết luận của bản thân - xem và đánh giá một phần trình bày để tìm ra các lồi sai và từ đó sửa đổi nếu cần, đưa ra kết luận về một vấn đề; đề xuất các phương án hoặc cách để giải quyết vấn đề. Cấp độ 6: Sáng tạo (Creating): phát triển thông tin, sản phẩm mới từ những thông tin, kiến thức đã có - thiết kế một tấm thiệp sử dụng những hình phắng 2D, mô phỏng các đồ vật 3D trong thực tế.