CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Khái quát về đọc hiểu và dạy học đọc hiểu văn bản * Khái quát về đọc hiểu Khi nhắc đến “đọc hiểu” thì có khá nhiều quan điểm khác nhau bàn luận về vấn đề này. Và để làm rõ được “đọc hiểu” thì các nhà nghiên cứu tiến hành tách bạch giữa “đọc” và “hiểu” để làm rõ được tận cùng gốc rễ của vấn đề.
Đọc là khái niệm có tính lịch sử, là biểu hiện sự tiến hóa ngôn ngữ của con người mang bản chất văn hóa nhận thức bằng ngôn từ để giao tiếp và phát triển cá thể cùng toàn thể xã hội. Đồng thời đọc để khôi phục và phát huy những cảm giác tinh tế liên quan tới âm thanh bằng ngôn ngữ và âm điệu, giọng điệu của người đọc hẳn tạo nghĩa tốt hơn việc đọc bằng mắt, đọc thầm. Theo PISA 2018 (Chương trình Đánh giá ho ̣c sinh Quố c tế ) đinh ̣ nghiã ''đo ̣c hiể u như một quá trin ̀ h mà ho ̣c sinh không chỉ đơn thuầ n là hiể u và tìm hiể u nội dung của văn bản, mà còn sử du ̣ng, phản ánh, đánh giá và kế t nố i với văn bản để đa ̣t đươ ̣c những mu ̣c tiêu cu ̣ thể , phát triể n hiể u biế t và tiề m năng của bản thân, và tham gia vào xã hội''. [31, Tr 8] Bàn về đọc hiểu, tác giả Nguyễn Thanh Hùng cho rằng: “Đọc – hiểu là một khái niệm khoa học chỉ ra mức độ cao nhất của hoạt động học; đọc – hiểu đồng thời cũng chỉ ra năng lực của người đọc.
Hiểu là phát hiện và nắm vững mối quan hệ đó. Hiểu là bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống. Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Vì sao? Làm như thế nào? Đó là biết và làm được trong đọc hiểu. Hiểu là quá trình nhận thức văn bản toàn vẹn.
Bên cạnh đó, tác giả Trầ n Đình Sử cho rằ ng hoa ̣t động đo ̣c chiń h là ''hoa ̣t động cơ bản của con người để chiế m liñ h văn hóa'' và hiể u bắ t đầ u từ: ''hiể u từ, hiể u câu, hiể u đoa ̣n, hiể u liên kế t, hiể u nghiã toàn bài'' và muố n hiể u đúng thì 12 trước hế t cầ n: ''tôn tro ̣ng tin ́ h chỉnh thể toàn ve ̣n, tiń h liên kế t, đić h của văn bản'' [54]. Theo đó, đo ̣c hiể u để tìm ra ý nghia, ̃ thông điệp của văn bản, thậ m chí lớp nghiã này nằ m ngoài tầ m kiể m soát của tác giả - chiń h là đo ̣c sáng ta ̣o là mu ̣c đić h cao nhấ t của đo ̣c hiể u văn bản [54]. Có thể thấy trên thực tế có khá nhiều quan niệm khác nhau về việc đọc hiểu văn bản. Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi đưa ra quan điểm về đọc hiểu như sau: Đọc hiểu là một quá trình người học tương tác với văn bản, là hoạt động diễn ra đồng thời, thể hiện sự lĩnh hội, nhận thức và khám khá cả về nội dung, hình thức văn bản.
Mục đích của đọc hiểu chính là người đọc hiểu rõ được ý nghĩa của văn bản, bao gồm cả nghĩa tường minh và nghĩa ẩn, từ đó có thể diễn giải và áp dụng nó vào cuộc sống hàng ngày. * Dạy học đọc hiểu văn bản Đọc hiểu văn bản là quá trình tìm hiểu và hiểu đúng ý nghĩa của một đoạn văn hoặc một tác phẩm văn bản. Nó bao gồm việc xác định ý chính, nhận biết thông tin chi tiết, phân loại và tổ chức thông tin, hiểu cấu trúc của văn bản, và đôi khi là việc suy luận và kết luận từ thông tin đã đọc. Đọc hiểu không chỉ giới hạn trong việc hiểu về nội dung, mà còn liên quan đến việc hiểu sâu về ý đồ của tác giả, ngữ cảnh và mục đích sử dụng ngôn ngữ.
Dạy học đọc hiểu là quá trình giảng dạy nhằm hướng dẫn học sinh phát triển khả năng hiểu nghĩa văn bản và xây dựng khả năng tổ chức thông tin từ các đoạn văn mà họ đọc. Trong quá trình này, giáo viên sử dụng các phương pháp và kỹ thuật để giúp học sinh xác định ý chính, nắm bắt chi tiết, phân loại thông tin, và phân tích cấu trúc văn bản. Đồng thời, giáo viên cung cấp điều kiện để học sinh phát triển kỹ năng suy luận, áp dụng kiến thức, và tư duy phản biện trong quá trình đọc hiểu văn bản. Mục tiêu của việc dạy đọc hiểu không chỉ là giúp học sinh hiểu và phản ánh về nội dung của văn bản, mà còn là để phát triển kỹ năng đọc hiểu và khả năng áp dụng kiến thức đã đọc vào cuộc 13 sống và học tập.
Điều này giúp học sinh trở nên tự tin và thành công trong việc đọc hiểu và sử dụng thông tin từ nhiều nguồn văn bản khác nhau. Trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản, GV giảng dạy và hướng dẫn học sinh cách hiểu và tương tác với các đoạn văn, bài viết, hoặc tác phẩm văn học. Quá trình này thường bao gồm nhiều bước và phương pháp để phát triển kỹ năng đọc hiểu của học sinh. Dưới đây là một số yếu tố quan trọng trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản: + Phân tích văn bản + Phương pháp đọc hiểu + Thực hành đọc hiểu + Giao tiếp văn bản + Phản hồi + Áp dụng vào thực tế + Xác định mục tiêu học tập Trong nhiều năm trở lại đây, các nước trên thế giới và đặc biệt là Việt Nam rất chú trọng vào kĩ năng đọc hiểu văn bản, coi đây là một kĩ năng tất yếu để người học có thể liên hệ và ứng dụng ra ngoài thực tiễn.
Việc đọc hiểu văn bản đã không còn bị tách biệt ra như một môn học chỉ sử dụng trong nhà trường. Ở nước ta, vấ n đề da ̣y ho ̣c đo ̣c hiể u gắ n liề n với quá trình đổ i mới chương trình, sách giáo khoa (SGK). Theo Trầ n Đình Sử, da ̣y văn giúp ho ̣c sinh phát triể n năng lực và kỹ năng đo ̣c để có thể đo ̣c và hiể u bấ t kỳ văn bản nào cùng loa ̣i. Đồ ng thời, việc da ̣y văn cũng giúp hình thành một cách đo ̣c riêng, mang la ̣i cá tính riêng cho ho ̣c sinh.
Quá trình da ̣y ho ̣c đo ̣c hiể u văn bản không chỉ đơn thuầ n da ̣y cho ho ̣c sinh năng lực đo ̣c hiể u mà còn rèn kỹ năng đo ̣c hiể u để ho ̣c sinh có thể tiế p nhận văn bản thông qua trải nghiệ m của cá nhân từ đó vận du ̣ng vào thực tiễn cuộc số ng. 14 Từ những vấn đề đã được đề cập, chúng tôi thấy rằng giảng dạy kỹ năng đọc hiểu văn bản không chỉ là một phần quan trọng của môn học Ngữ văn trong hệ thống giáo dục mà còn có vai trò quan trọng trong thực tế xã hội. Mục tiêu chính của việc giảng dạy này là để học sinh phát triển khả năng đọc hiểu, bao gồm khả năng phân tích, suy luận và tự chủ trong việc hiểu ý nghĩa của các thông tin, thông điệp, quan điểm, tư tưởng cũng như tình cảm và cảm xúc được thể hiện trong văn bản. Trong quá trình giảng dạy theo chương trình Ngữ văn 2018, giáo viên trở thành người hướng dẫn trong hoạt động đọc hiểu, trong khi học sinh trở thành chủ thể chính trong quá trình đọc, sử dụng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm để tiếp nhận và hiểu văn bản.
Văn bản trở thành trung tâm của quá trình đọc hiểu, là đối tượng mà học sinh tương tác trực tiếp, nhằm mục tiêu cuối cùng là phát triển năng lực, phẩm chất và nhân cách cho học sinh, bao gồm cả quá trình giảng dạy kỹ năng đọc hiểu văn bản. Văn bản thông tin 1. Khái niệm Nhắc tới văn bản thông tin, hiện nay trong nước và trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về loại văn bản này. Theo Chương trình giáo du ̣c phổ thông môn Ngữ văn (2018) thì văn bản thông tin được ám chỉ là loa ̣i văn bản chủ yế u đươ ̣c sử du ̣ng để cung cấ p thông tin.
Văn bản thông tin thường có mu ̣c đić h truyề n đa ̣t các thông tin cu ̣ thể , khách quan và hữu ić h cho người đo ̣c. ̣ nghiã văn bản thông tin là văn bản Tác giả Đỗ Ngo ̣c Thố ng cũng đã đinh chủ yế u dùng để cung cấ p thông tin về nhiề u khiá ca ̣nh của cuộc số ng, từ con người, sự vật, đế n các hiện tươṇ g tự nhiên và xã hội. Đồ ng thời, tác giả cũng đề cập đế n khái niệ m văn bản đa phương thức (multimodal text), ám chỉ rằ ng văn bản thông tin có thể kế t hơ ̣p nhiề u hình thức như văn bản, hình ảnh, â m thanh, video, ta ̣o ra một hin ̀ h thức truyề n thông đa phương tiện để truyề n tải thông tin một cách hiệu quả hơn [36, Tr. 15 Chương trình Ngữ văn của một số nước đã dùng những tên gọi khác nhau để chỉ loại văn bản có nội dung liên quan trực tiếp đến thế giới hiện thực, không sử dụng những yếu tố hư cấu, tưởng tượng, thực hiện chức năng chủ yếu là cung cấp thông tin.
Chẳng hạn như: – Trong chuẩn Chương trình chung cốt lõi của bang California coi văn bản thông tin “là kiểu văn bản trình bày về lịch sử, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và nghệ thuật”, “là các văn bản chuyên môn, bao gồm các định hướng, hình thức và thông tin được trình bài dưới dạng biểu đồ, đồ thị hoặc bản đồ”, ‘là nguồn dữ liệu số trong một phạm vi nhiều chủ đề” [3] – Khung Chương trình Tiếng Anh ở bậc Tiểu học và Trung học năm 2010 của Singapore (sau đây xin gọi là Chương trình Tiếng Anh của Singapore) xác định rõ hai loại văn bản chính được giảng dạy là văn bản văn chương (literary text) và văn bản thông tin (informational text) hay còn được gọi là văn bản chức năng (functional text). Từ việc điểm qua hệ thống khái niệm văn bản được sử dụng trong Chương trình Ngữ văn của một số nước trên thế giới, chúng tôi nhận thấy một điểm chung là ở tất cả các nước, khung Chương trình Ngữ văn đều sử dụng đa dạng loại văn bản trong dạy học đọc hiểu.