Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu trên thế giới 1. Những nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên các trường dạy nghề Với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, giáo viên luôn được coi là chủ thể quan trọng của quá trình giáo dục và đào tạo, chất lượng giáo viên có vai trò quyết định chất lượng giáo dục của mỗi nhà trường.
Nâng cao chất lượng giáo viên là vấn đề được các nhà khoa học, các chuyên gia giáo dục học quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu riêng về phát triển đội ngũ giáo viên các trường dạy nghề một cách rõ nét mà chỉ thể hiện trong một số nghiên cứu về đội ngũ giáo viên và phát triển đội ngũ giáo viên nói chung. Nghiên cứu về giáo viên, các nước thành viên Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế châu Âu (OECD) đã đặt ra yêu cầu đối với người giáo viên thế kỷ XXI là: Sáng tạo - hiệu quả. Cụ thể là: (1) Kiến thức phong phú; (2) Kỹ năng sư phạm, phương pháp dạy học tốt; (3) Có tư duy phản biện, năng lực tự phê; (4) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người học; (5) Có năng lực quản lý, quản lý trong và ngoài lớp học.
Hội thảo ASD Armidele do UNESCO tổ chức 1985, các báo cáo đều tập trung phân tích vai trò của giáo viên trong thời đại mới là người thiết kế, người tổ chức, người cổ vũ, người canh tân. Để đáp ứng được vai trò đó, cần phải không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên như: (1) Các chương trình đào tạo bồi dưỡng giáo viên cần triệt để sử dụng các thiết bị và phương pháp giảng dạy hiện đại, tiên tiến nhất; (2) Giáo viên phải được đào tạo để trở thành nhà giáo dục hơn là một chuyên gia truyền đạt kiến thức 11 trên lớp; (3) Việc dạy học phải thích nghi, phù hợp với người học chứ không phải buộc người học tuân theo những qui định đặt ra của cơ sở giáo dục hay người thầy. Hội nghị UNESCO tổ chức tại Nê Pan vào năm 1998 về tổ chức quản lý nhà trường đã khẳng định: “Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục”. Hội thảo Cambridge đã đặt ra 5 yêu cầu cốt lõi đối với nhà giáo cho thế kỷ 21 là: Kiến thức, kỹ năng sư phạm, phẩm chất, thái độ và niềm tin.
Trong những năm gần đây, việc xuất hiện các công nghệ mới đòi hỏi mới phải đối với đội ngũ giáo viên nhất là về phương pháp dạy học. Đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên cần có hình thức, nội dung đa dạng, phong phú; kèm theo phương thức giảm giờ trên lớp, dạy gợi mở, khêu gợi trí tò mò và năng lực khám phá của học sinh. Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên theo chuẩn mực cũng được các nhà khoa học giáo dục trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Kômenxki (1592- 1670), nhà nghiên cứu giáo dục người Séc rất đề cao vai trò của nhà trường trong việc hình thành, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách con người.
Kômenxki đặt ra yêu cầu đối với người giáo viên là phải mẫu mực, trong sáng về đạo đức và tác phong, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng được yêu cầu của nghề nghiệp, đây cũng là lương tâm, trách nhiệm, uy tín của giáo viên. Tuy nhiên, ông chưa chỉ rõ được cách thức để quản lý phát triển đội ngũ giáo viên. Kônđacốp và P. Khuđominxki (Liên Xô cũ) đã rất quan tâm tới việc giáo dục trong nhà trường.
Các ông cho rằng chất lượng dạy học trong nhà trường phụ thuộc vào đội ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng dạy học phải có đội ngũ giáo viên có năng lực nghề nghiệp chuyên môn, do đó công tác quản lý bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên là vô cùng quan trọng. Arends với công trình nghiên cứu “Học để dạy” đã đề cập đến vấn đề đổi mới cách dạy học lấy học sinh làm trung tâm, do đó đòi hỏi giáo viên cần nâng cao năng lực nghề nghiệp cần phải có năng lực chuyên biệt vận dụng để dạy học [67]. Các tác giả Thomas Deissinger và Slilke Hellwing (Đức) đã đưa ra quan điểm về cấu trúc và chức năng của chương trình đào tạo dựa trên năng lực thực hiện. Đó là việc xác định các tính năng trong cấu trúc và chức năng của chương trình, mục tiêu đào tạo.
Nó bao gồm kế hoạch xây dựng chương trình, phát triển chương trình và kiểm định chương trình trước khi thực hiện; xét đến sự khác biệt, ưu, nhược điểm của việc xây dựng cấu trúc, chức năng chương trình đào tạo theo tiếp cận năng lực thực hiện với các lý thuyết xây dựng chương trình đào tạo nghề khác. Tác giả Leesa Wheelahan (Úc) đã đưa ra luận cứ quan trọng là sự hiểu biết (kiến thức) của người học phải được đặt vào vị trí trung tâm của chương trình đào tạo thay cho việc bắt đầu từ việc tiếp nhận hệ thống tri thức khoa học chuyên sâu. Có thể có nhiều cách hiểu, nhưng năng lực thực hiện là tổ hợp của hệ thống kiến thức, kỹ năng và thái độ. Vì vậy, đặt năng lực thực hiện vào vị trí trung tâm tức là quan tâm đến việc đặt kiến thức trong mối quan hệ mật thiết với kỹ năng và thái độ, đảm bảo gắn với thực tiễn lao động nghề nghiệp, khắc phục tính hàn lâm của giáo dục đào tạo.
Tác giả cũng đã đề xuất cần phải có những nghiên cứu sâu hơn trong các lý thuyết xây dựng chương trình đào tạo. Những nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên các trường dạy nghề theo chuẩn nghề nghiệp Vấn đề chuẩn nghề nghiệp giáo viên được các quốc gia trên thế giới rất quan tâm. Đây là nội dung mà các trường sư phạm phải tập trung đào tạo và mỗi giáo viên phải luôn phấn đấu hoàn thiện mình. Để chính xác hóa việc đánh giá và phân loại giáo viên, nhiều nước trên là xây dựng bộ Chuẩn nghề 13 nghiệp cho người giáo viên, nó làm cho dạy học trở thành một nghề nghiệp và có ý nghĩa định hướng cho giáo viên rèn luyện, phấn đấu một cách hiệu quả.
Tại Hoa Kỳ Chuẩn nghề nghiệp giáo viên do Uỷ ban Quốc gia Chuẩn nghề dạy học (National Board for Professional Teacher Standards- NBPTS) ban hành năm 1987. Theo đó, 5 điểm cốt lõi là: (1) Giáo viên phải tận tâm với học sinh và việc học của họ; (2) Giáo viên phải làm chủ môn học, biết cách dạy môn học của mình; (3) Giáo viên phải có trách nhiệm quản lý và hướng dẫn học sinh học tập; (4) Giáo viên phải suy nghĩ một cách hệ thống về thực tế hành nghề của họ và học tập qua trải nghiệm; (5) Giáo viên phải là thành viên của cộng đồng học. Giáo viên cần phải nắm được, tận dụng và hỗ trợ phát triển các mối quan hệ cộng đồng; phát triển văn hóa trường học để thực hiện, xử lí các thách thức về vai trò và các quan hệ trong giáo dục; có kế hoạch phát triển nghề nghiệp; thu hút sự tham vấn ý kiến của người học nhằm hỗ trợ cho sự phát triển nghề nghiệp; phối hợp có hiệu quả với cha mẹ học sinh và cộng sự. Tại Anh, Chuẩn nghề nghiệp giáo viên được xây dựng gồm 3 phần: (1) Những đặc trưng nghề nghiệp; (2) Kiến thức và sự am hiểu nghề nghiệp; (3) Các kĩ năng nghề nghiệp.
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên được xác định cụ thể cho từng giai đoạn phát triển nghề của giáo viên từ khi mới vào nghề, chuẩn cho tất cả giáo viên và giáo viên có thang bậc lương cao, giáo viên giỏi, giáo viên có kĩ năng cấp cao. Họ quy định tiêu chuẩn nghề nghiệp giáo viên rất cụ thể, toàn diện để đánh giá giáo viên chính xác, công bằng. Năng lực sư phạm tạo nên nhân cách toàn diện của giáo viên, căn cứ vào đó để xây dựng chương trình bồi dưỡng cho giáo viên. Tại Úc, Hội đồng giáo viên đã đề xuất hướng dẫn đánh giá năng lực giáo viên trên toàn quốc với 5 lĩnh vực cơ bản: (1) Sử dụng và phát triển sự hiểu biết và giá trị nghề nghiệp; (2) Kỹ năng giao tiếp và làm việc với HS và đồng nghiệp; (3) Lập kế hoạch và quản lý quá trình dạy và học; (4) Theo dõi 14 và đánh giá việc học tập của HS và kết quả học tập; (5) Phản ánh, đánh giá việc lập kế hoạch cho việc phát triển nghề nghiệp.
Tại Cộng hòa Liên bang Đức, người ta nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo viên dạy nghề và cho rằng phải đạt được 10 yêu cầu thuộc 4 nhóm là: (1) Năng lực dạy học; (2) Năng lực giáo dục; (3) Năng lực đánh giá; (4) Năng lực đổi mới. Giáo viên dạy nghề được đào tạo theo mô hình nhất định, giáo viên dạy lý thuyết và thực hành và được bồi dưỡng về nghiệp vụ khi tham gia giảng dạy và thi nâng bậc. Tại Singapore, Mô hình phát triển giáo viên thế kỉ XXI (2012) đưa ra yêu cầu: giáo viên cần được trang bị những kiến thức và kỹ năng phù hợp để họ có thể giúp học sinh phát triển toàn diện. Đồng thời đặt ra 5 mục tiêu đối với người giáo viên trong thế kỉ XXI: (1) Giáo viên phải là nhà giáo dục có đạo đức; (2) Giáo viên phải là nhà chuyên môn; (3) là người học có khả năng cộng tác; (4) Nhà lãnh đạo có khả năng biến hóa; (5) Là thành viên tích cực xây dựng cộng đồng.
Tại Trung Quốc, Chính phủ Trung xây dựng “Chương trình quốc gia về mạng lưới đào tạo giáo viên” nhằm hiện đại hóa việc đào tạo giáo viên, cải tiến chất lượng giảng dạy. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về dạy nghề năng lực giáo viên dạy nghề theo trình độ được đào tạo. Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc, các cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau phù hợp với cơ sở giáo dục trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định, cử giáo viên đi bồi dưỡng và nâng cấp theo từng đợt. Tại Thái Lan, từ năm 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp và thông tin cơ bản cho đội ngũ giáo viên.