CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC HỌC VIỆN TRONG QUÂN ĐỘI THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển ĐNGV ở các cơ sở đại học được chú ý quan tâm, nghiên cứu, có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như: Christian Batal (Pháp) trong bộ sách “Quản lí nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” đã giới thiệu về lí thuyết phát triển nguồn nhân lực một cách tổng thể từ khâu đánh giá đến nâng cao năng lực, hiệu quả của nguồn nhân lực [8.
Khi nghiên cứu Christian Batal đã sử dụng kết quả nghiên cứu của các nhà giáo dục học, dự báo, dân số học, toán học. để đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh của nhiệm vụ quản lí phát triển nguồn nhân lực, bao gồm từ khâu kiểm kê, đánh giá đến nâng cao năng lực, hiệu lực của nguồn nhân lực. Năm 1980 Leonard Nadler, nhà xã hội học người Mỹ đã đưa ra sơ đồ quản lí nguồn nhân lực để mô tả mối quan hệ và các nhiệm vụ của công tác quản lí nguồn nhân lực. Theo ông, quản lí nguồn nhân lực gồm có 3 nhiệm vụ chính là: Phát triển nguồn nhân lực (GD-ĐT, bồi dưỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ); Sử dụng nguồn nhân lực (tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch hoá sức lao động); Môi trường nguồn nhân lực (mở rộng chủng loại việc làm, mở rộng qui mô làm việc, phát triển tổ chức) [dẫn theo 18.
Kết quả nghiên cứu của Leonard Nadler đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng vào việc phát triển nhân lực. Nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã khẳng định chất lượng nhà giáo gồm 5 mặt: Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình giảng dạy; Kĩ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê bình, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người 12 khác; Có năng lực quản lí, kể cả trách nhiệm quản lí trong và ngoài lớp học [dẫn theo 18. Quan điểm và nhận thức về vị trí, vai trò của GV, ĐNGV ngày càng đúng đắn, toàn diện hơn. Trong Dự thảo khung về tiêu chuẩn nhà giáo ở Australia (tháng 6/2003) [21.], trong Giáo dục Nhật Bản [34.] và các nước khác đều nhấn mạnh vai trò của nhà giáo: phải vừa là nhà chuyên môn, vừa là người lãnh đạo (lãnh đạo hoạt động lớp học và lãnh đạo chuyên môn).
Tổ chức NBPTS - Ủy ban Quốc gia về các Tiêu chuẩn chuyên môn nhà giáo của Hoa kỳ (National board of proffesional Teaching) được thành lập năm 1987, đã phát hành một bản yêu cầu mang tính nguyên tắc định hướng nghề nghiệp đầu tiên: Thầy giáo cần phải biết và có thể làm gì? (What teachers Should Know and Be Able to do?) với 5 vấn đề cốt lõi được hòa trộn là kiến thức, kĩ năng, phẩm chất, thái độ và niềm tin [21. Tác giả Victor Minichiello trong chuyên đề Phát triển đội ngũ trong các trường đại học, đã đề cập đến rất nhiều vấn đề như: tại sao phải phát triển đội ngũ? Phát triển đội ngũ đối với lãnh đạo nhà trường, đối với lãnh đạo khoa như thế nảo? Còn phát triển đội ngũ đối với GV, Victor Minichiello quan tâm đến việc hình thành ở họ những năng lực cần thiết trong một nôi trường đang thay đổi [108. Theo tác giả Catherine Armstrong, GV đại học có hai nhiệm vụ cơ bản là giảng dạy và nghiên cứu [82. Nhưng trước tiên họ cần quan tâm đến phát triển các kĩ năng giảng dạy của mình, đồng thời với việc tích lũy kinh nghiệm trên lĩnh vực này… Tác giả Linda Darling-Hammod cho rằng phát triển ĐNGV là công việc đặc biệt quan trọng đối với trường đại học [92.
Cùng với phát triển chương trình đào tạo, các trường đại học phải chú ý phát triển khả năng giảng dạy của GV, bảo đảm cho hoạt động này đem lại hữu ích cho sinh viên ở cả phương diện lí thuyết và thực hành. Các tác giả David Kember và Lyn Gow trong công trình “Nghiên cứu hành động là một loại hình phát triển ĐNGV đại học” đã cho rằng, để phát triển ĐNGV đại học cần cố gắng cải thiện hoạt động giảng dạy của GV, thông qua các hành động lập kế hoạch; biên soạn đề cương chi tiết; tổ chức các mối quan hệ với sinh 13 viên và tài liệu học tập…[83. Nghiên cứu hành động đã trở thành một cơ sở để phát triển ĐNGV đại học. Các tác giả Maria Hendriks, Hans Luyten, Jaap Scheerens, Peter Sleegers và Rien SteenJaap Scheerens đã cho rằng, phát triển ĐNGV đại học là một con đường quan trọng bậc nhất để nâng cao hiệu quả giáo dục đại học [94.
Nhìn chung những công trình nghiên cứu của các nước trên thế giới đều coi GV nói riêng, ĐNGV nói chung là một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo chất lượng và sự phát triển của nền giáo dục. Các điều kiện đó là: Môi trường kinh tế của giáo dục; Chính sách và các công cụ thể chế hóa giáo dục; Cơ sở vật chất, kĩ thuật và tài chính; Đội ngũ giáo viên và người học; Nghiên cứu giáo dục, lí luận giáo dục và thông tin giáo dục. Nghiên cứu ở trong nước Ở nước ta, đã có một số công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực ngành GD-ĐT nói chung và nghiên cứu về ĐNGV nói riêng. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu theo các chủ đề sau đây: Các công trình nghiên cứu về quản lí phát triển nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước như: [18.
Các công trình trên đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau, nhưng điểm chung là: đều khẳng định vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển KT-XH; thống nhất cơ bản với các nghiên cứu của thế giới về nội dung phát triển nguồn nhân lực và đề xuất các giải pháp sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Nhìn tổng thể, các công trình nghiên cứu trên đã khái quát được những vấn đề cơ bản về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ XXI. Theo tác giả Cao Tuấn Anh, việc phát triển ĐNGV “Phải được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của các trường đại học” [1. Các tác giả Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan (2001) với công trình “Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam” đã đề cập tới nội dung phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học và những giải pháp phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam.
Những giải pháp đưa ra mang tính định hướng cho giáo 14 dục đại học Việt Nam nói chung [10. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ mã số B2006-37-02TĐ do tác giả Nguyễn Lộc làm chủ trì “Những vấn đề lí luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam” đã phân tích những nội dung liên quan đến hiện trạng phát triển nguồn nhân lực gồm hiện trạng giáo dục phổ thông, về đào tạo và về các loại hình khác; xây dựng những định hướng chiến lược về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thập kỉ tới. đề tài giúp tác giả có thêm tư liệu tham khảo về việc phát triển nguồn nhân lực nói chung và trong lĩnh vực GD-ĐT nói riêng [44. Tác giả Phạm Hồng Quang cho rằng, để phát triển ĐNGV đại học, ngoài các nhân tố khác ra, phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề tạo động lực làm việc cho GV [58.
Khi GV có động lực làm việc mới nâng cao được chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng. Tác giả Trần Xuân Bách đã gắn việc phát triển ĐNGV với đánh giá ĐNGV và xem đây là hai vấn đề then chốt của các trường đại học hiện nay [2. Theo tác giả, phát triển ĐNGV thực chất là phát triển nghề nghiệp của ĐNGV và sự phát triển này phải trở thành trách nhiệm có tính quy hoạch của trường đại học. Về chất lượng, năng lực ĐNGV như: “Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất ĐNGV” của Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa sau khi đề cập những vấn đề chung về phẩm chất - năng lực người thầy, nghề thầy trong bối cảnh phát triển mới; cuốn sách đã đề ra các con đường để người thầy tự tìm hiểu nâng cao được phẩm chất, năng lực của bản thân, đáp ứng yêu cầu của nhà giáo trong điều kiện đất nước thực hiện hội nhập và công nghiệp hóa, đưa giáo dục vào sự chuẩn hóa, hiện đại hóa [3.]; “Giáo dục đại học - Quan điểm và giải pháp” của tác giả Lê Đức Ngọc đã cho rằng: có hai lí do chính làm cho vấn đề ĐNGV trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà trường đại học.
Thứ nhất, trình độ của đội ngũ quyết định chất lượng và khả năng của một trường trong giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ xã hội trong nền kinh tế hàng hóa. Thứ hai, chi phí lương và phụ cấp cho đội ngũ này là khoản chi phí lớn nhất của mỗi trường đại học, nó gắn liền với vấn đề chất lượng, hiệu quả và hiệu suất đào tạo [47. Qua đó, tác giả đề nghị: Cần có một tổ chức để thực hiện việc BD chuyên môn nghiệp vụ cho GV. Đó có thể là 15 một trung tâm nghiên cứu giáo dục đại học hay một tổ chức có tư cách pháp nhân của Hiệp hội các trường đại học Việt Nam, sẽ đảm nhận giữ vai trò đầu mối cho các hoạt động nâng cao chất lượng GV; Cần có kinh phí cho hoạt động BD chuyên môn nghiệp vụ GV.
Kinh phí này lấy từ nguồn BD cán bộ hành chính sự nghiệp hàng năm, từ chương trình khoa học cơ bản, từ các nguồn tài trợ và đóng góp của các thành viên tham gia hoạt động [47. Tác giả Võ Xuân Đàn cho rằng: “ĐNGV là yếu tố quyết định chất lượng ở các trường đại học. Các nguồn lực khác của nhà trường và xã hội chỉ đóng vai trò hỗ trợ, tiếp sức, tạo điều kiện để GV thực hiện tốt chức năng cao quý của mình là đào tạo thế hệ trẻ, những nhân tài – chủ nhân tương lai của đất nước [16.