CHƯƠNG 1 Thực hiện đổi mới công tác quản lý theo chỉ đạo của cấp trên, cần thiết phải đi vào đổi mới nhận thức, phương pháp, biện pháp, quy trình…hay nói cách khác đó là đi vào đổi mới hệ thống KSNB trong tổ chức. KSNB được thế giới đặc biệt quan tâm đến kể từ những năm 70 của thế kỷ XX sau hàng loạt các vấn đề về tài chính và chính trị xảy ra ở Hoa kỳ. Báo cáo COSO ra đời tạo nền tảng lý luận cơ bản về KSNB, trên cơ sở đó, tổ chức INTOSAI đã trình bày vấn đề đặc thù của KSNB trong khu vực công. Tương tự báo cáo COSO, INTOSAI đưa ra 5 yếu tố của HTKSNB, bao gồm: - Môi trường kiểm soát - Đánh giá rủi ro - Các hoạt động kiểm soát - Thông tin và truyền thông - Giám sát Các yếu tố này chính là tiêu chí đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống, chúng tác động qua lại lẫn nhau.
Một HTKSNB hoạt động hữu hiệu có thể ngăn ngừa và phát hiện những sai phạm, yếu kém trong hoạt động của tổ chức. KSNB nhằm đạt các mục tiêu: - Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả. - Đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính. - Tuân thủ các luật lệ và quy định.
123doc Trang 13 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRUNG ƯƠNG TP. HỒ CHÍ MINH 2.1 Một số vấn đề trong giáo dục đại học Việt Nam hiện nay có tác động đến hệ thống kiểm soát nội bộ của các cơ sở giáo dục.1 Xã hội hóa giáo dục và toàn cầu hóa giáo dục đại học: Ở nước ta hiện nay, nhu cầu học đại học đang trong giai đoạn gia tăng mạnh mẽ. Vấn đề đào tạo theo nhu cầu xã hội đang được quan tâm, các đơn vị giáo dục đang cố gắng quan tâm đến người học để thu hút đầu vào. Làn sóng du học sinh ồ ạt đổ về các quốc gia, các trường đại học danh tiếng trên thế giới.
Trước tình hình đó, Đảng và nhà nước ta đã thực hiện cải cách trong lĩnh vực giáo dục. Từ năm 2000, bắt đầu thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, năm 2004 tiếp tục có chiến lược phát triển và đổi mới giáo dục mầm non, từ năm 2005 bắt đầu đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học. Khi hội nhập giáo dục và cải cách giáo dục là vấn đề cấp bách, các cơ sở giáo dục phải biết đón đầu những cơ hội, triển khai đào tạo liên kết, các loại hình đào tạo, thực hiện quản lý hiệu quả…nhằm thu hút người học và nâng cao lợi nhuận. Do đó, cần quan tâm cải cách công tác quản lý, quan tâm đến KSNB.2 Hiệu quả và tài chính trong các đơn vị giáo dục công lập Hầu hết các trường công lập chỉ quan tâm đến mặt chất lượng và hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo, chính trị được giao, mặt hiệu quả và tài chính chưa được quan tâm đúng mức.
Hiệu suất đầu tư trong giáo dục đại học công lập hầu như ít ai quan tâm. Một trường đại học quy mô nhỏ, chi phí đơn vị tính trên đầu sinh viên có thể gấp 2-3 lần so với trường đại học có quy mô lớn nhưng vẫn tiếp tục được duy trì và chưa thấy có động thái cải tổ để nâng cao hiệu quả đầu tư. Vấn đề quản lý tài chính trong trường đại học công lập hầu hết chỉ dừng ở mức theo dõi báo cáo mà chưa quan tâm đến vấn đề kế toán quản trị, kế toán chi phí, nâng cao hiệu suất đầu tư… Vấn đề hiệu quả tài chính có ảnh hưởng đến tư duy nhà quản trị cơ sở giáo dục, một khi hiệu quả tài chính chưa được quan tâm đúng mực thì hệ thống KSNB chưa thật sự cần thiết để phát huy sức mạnh của nó, khi không có ai quan tâm làm 123doc Trang 14 thế nào để đạt hiệu quả cao hơn, làm thế nào để tiết kiệm chi phí… thì HTKSNB cũng chưa có cơ hội để phát huy vai trò.3 Đào tạo theo hệ thống tín chỉ Thực hiện theo Quyết định 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/08/2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, các cơ sở đào tạo sẽ triển khai áp dụng đồng loạt chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ kể từ năm học 2010-2011. Do đó yêu cầu phải thay đổi công tác quản lý trong hầu hết các hoạt động chủ đạo, vì vậy, tất yếu sẽ có sự thay đổi trong kiểm soát nội bộ.4 Kiểm định chất lượng giáo dục Vấn đề mới được Bộ GD&ĐT quan tâm và đồng loạt triển khai từ năm 2008 cho tất cả các trường đại học, cao đẳng trong cả nước nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, quy chuẩn các trường.
Kiểm định chất lượng giáo dục như một đợt tự tổng kiểm tra của các đơn vị khi tự mình nhìn nhận đánh giá mình, giúp các đơn vị phát huy mặt mạnh, khắc phục điểm yếu bằng các giải pháp cụ thể, trong đó việc nâng cao vai trò hệ thống KSNB tại đơn vị thật sự là một trong những giải pháp cần thiết với hầu hết các đơn vị.5 Tự chủ tài chính và tự chủ biên chế Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập đã thực sự là cánh cửa mở cho các cơ sở đào tạo công lập về quản lý tài chính và biên chế lao động. Từ đây, các đơn vị đã nỗ lực hơn trong việc khai thác nguồn lực sẵn có và thế mạnh của đơn vị mình để tạo nguồn thu, tăng thu nhập cho người lao động, chú ý hơn đến hiệu quả tài chính. Khoản thu nhập tăng thêm từ tiết kiệm chi tiêu thường xuyên đã thật sự là đòn bẩy khích lệ động viên các đơn vị phải tiết kiệm chi tiêu hành chính, sắp xếp lao động… Các đơn vị tự xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ (QCCTNB) làm căn cứ kiểm soát chi tiêu. HTKSNB thực sự cần thiết để ngăn ngừa và phát hiện sai sót, gian lận, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của nhà trường.6 Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009 - 2014 Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009 – 2014 với mục tiêu xây dựng cơ chế tài chính mới cho giáo dục, nhằm huy động ngày càng tăng và sử 123doc Trang 15 dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước và xã hội để nâng cao chất lượng và tăng quy mô giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực sự coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu; và xây dựng hệ thống các chính sách để tiến tới mọi người ai cũng được học hành với nền giáo dục có chất lượng ngày càng cao.
Để đạt được các mục tiêu trên, đã đến lúc để các đơn vị đào tạo phải tiến hành cải cách quản lý mới và công cụ kiểm soát lại có cơ hội phát huy vai trò.7 Bộ GD&ĐT phát động chủ đề năm học 2009-2010 “Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”. Hưởng ứng chủ đề năm học, các cơ sở giáo dục tiến hành xây dựng phương hướng năm học cụ thể theo chủ đề trọng tâm. Khi quản lý được quan tâm đổi mới, chất lượng giáo dục đòi hỏi được nâng cao thì công cụ nhà quản lý sử dụng không thể thiếu chính là hệ thống KSNB. Trước các vấn đề đặt ra như trên, nhà quản lý giáo dục buộc phải xem xét đánh giá tình hình và đưa ra biện pháp quản lý phù hợp với thực trạng, với xu hướng tất yếu của thời đại, biết đón đầu, định hướng chiến lược, tự thân vận động để đổi mới, do đó sẽ có những ảnh hưởng đáng kể đến hệ thống KSNB.
Tổng quan về Trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương TP. Hồ Chí Minh 2. Lịch sử hình thành và phát triển Tiền thân là Trường Sư phạm Mẫu giáo Trung ương số 3 thành lập ngày 25/9/1976, với nhiệm vụ đào tạo giáo viên mẫu giáo trình độ trung học có khả năng làm cán bộ quản lý ngành học, giáo viên dạy các bộ môn phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường sư phạm mẫu giáo địa phương thuộc khu vực các tỉnh phía Nam. Từ năm 1977, nhà trường bắt đầu đào tạo giáo viên mẫu giáo hệ 12+1+1.
Bên cạnh đó, Trường đào tạo các khoá bồi dưỡng cấp tốc cô nuôi dạy trẻ (3 tháng, 9 tháng, 12 tháng). Từ năm 1988, đào tạo hệ 12+2. Năm 1987, trường được nâng cấp từ hệ trung cấp lên hệ cao đẳng với nhiệm vụ đào tạo giáo viên có trình độ cao đẳng (12+3) và đổi tên thành Trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương 3 theo Quyết định thành lập số 89/HĐBT ngày 28/3/1987 của Hội đồng Bộ trưởng. Tháng 1/2000, trường mở 2 ngành Sư phạm Âm nhạc và Sư phạm Mỹ thuật, đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng cho các bậc học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở.
123doc Trang 16 Tháng 5/2003, mở ngành Giáo dục Đặc biệt. Tháng 9/2008 mở thêm 4 mã ngành: Quản lý văn hóa, Kinh tế gia đình, Công tác xã hội và Đồ họa. Tháng 4/2007, đổi tên từ trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương số 3 thành trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TP.1 Giá trị truyền thống Là đơn vị đào tạo phía Nam duy nhất có bề dày lịch sử 33 năm chuyên về đào tạo giáo viên mầm non. Từ năm 2003, bổ sung thêm 3 ngành đào tạo mới: ngành Sư phạm Âm nhạc (SPAN), Sư phạm Mỹ thuật (SPMT) và Giáo dục đặc biệt (GDĐB), tuy mới thành lập, nhưng chất lượng đào tạo cũng rất tốt và ổn định, khẳng định được vị trí trong ngành.
Trường có đội ngũ giảng viên giỏi, có năng lực chuyên môn, có trình độ nghiên cứu tốt, dày dạn kinh nghiệm trong lĩnh vực đào tạo giáo viên mầm non. Sinh viên ra trường đều có năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề, kỹ năng sư phạm, đảm đương tốt vai trò là người giáo viên, ngoài ra một số cựu sinh viên còn tham gia công tác quản lý trong ngành mầm non. Hầu hết sinh viên mới ra trường đều có việc làm, và được đơn vị tuyển dụng rất ưa chuộng.2 Nhân sự Cả trường có 160 lao động. trong đó giáo viên là 100 người, nhân viên 60 người, cán bộ quản lý là 35 người.
Giảng viên lâu năm có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo từ nước ngoài chuyên về giáo dục mầm non.