lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về quản lý đào tạo nghề cho phát triển kinh tế xã hội Hà Giang. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề ở Hà Giang. Chƣơng 4: Định hướng và các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả qản lý đào tạo nghề cho phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Giang trong thời gian tới. 6 z Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI HÀ GIANG Vấn đề đào tạo nghề và quản lý đào tạo nghề là một lĩnh vực quan trọng trong chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững là yêu cầu tất yếu, khách quan đối với mọi quốc gia hiện nay.
Trong đó Việt Nam chúng ta đang thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập sâu rộng vào nền kính tế quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa thì hoạt động đào tạo nghề và quản lý đào tạo nghề để phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển đất nƣớc bền vững càng trở lên cần thiết. Chính vì thế, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đó đã có nhiều nhà khoa học và nhiều tổ chức chính trị xã hội tìm hiểu nghiên cứu làm rõ những khái niệm về nghề, đào tạo nghề, quản lý đào tạo nghề nhằm lựa chọn đƣa ra những chính sách khoa học đúng đắn trong quản lý đào tạo nghề phát triển nguồn nhân lực. Do vậy, với những cách tiếp cận trong lĩnh vực nghiên cứu và cách hiểu của những nhà khoa học và của các tổ chức khác nhau đã đƣa ra những khái niệm khác nhau. Để góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và làm rõ những khái niệm về nghề, đào tạo nghề, quản lý đào tạo nghề là gì? Luận văn sẽ làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về công tác quản lý đào tạo nghề trong mối quan hệ với phát triển kinh tế xã hội ở Hà Giang.
Khái niệm nghề, đào tạo nghề, quản lý đào tạo nghề. Khái niệm nghề. Trong đời sống sản xuất của xã hội, trong việc đào tạo cán bộ kỹ thuật, đào tạo công nhân thƣờng hay đề cập tới khái niệm nghề và trong đời sống sản xuất thực tiễn cũng tồn tại đa dạng các loại nghề khác nhau, cũng có những cách hiểu và khái niệm khác nhau về nghề. 7 z Theo cuốn sách Sổ tay Tƣ vấn Hƣớng Nghiệp và chọn nghề của Nguyễn Hùng chủ biên, Nhà xuất bản Giáo Dục, xuất bản năm 2008, trang 11 có đƣa ra khái niệm: Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau đƣợc xếp thành một nhóm chuyên môn và đƣợc gọi là nghề.
Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau. Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con ngƣời dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tƣợng cụ thể nhằm biến đổi những đối tƣợng đó theo hƣớng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con ngƣời. Một số quan điểm khác lại đƣa ra khái niệm: Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ đƣợc đào tạo, con ngƣời có đƣợc những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng đƣợc những nhu cầu của xã hội. Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con ngƣời bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lƣơng thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tƣ cách là những phƣơng tiện sinh tồn và phát triển của xã hội.
Với những quan niệm nhƣ vậy cho thấy các nhà nghiên cứu đã có sự phân biệt giữa khái niệm Nghề và Chuyên môn nhƣng cơ bản đều thống nhất cho rằng: Một nghề có thể bao gồm nhiều chuyên môn khác nhau và một chuyên môn cũng có thể đƣợc sử dụng tồn tại ở nhiều nghề khác nhau. Theo giáo trình Kinh tế lao động của trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân lại đƣa khái niệm: Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức hiểu biết và kỹ năng một ngƣời lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định. 8 z Nhƣ vậy, từ những cách tiếp cận ở những giác độ nghiên cứu khác nhau đã có những cách hiểu và đƣa ra những khái niệm khác nhau về nghề. Dựa trên những cách hiểu đó có thể khái quát: Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.
Khái niệm nghề có thể hiểu đƣợc gọi là nghề cần phải thảo mãn các điều kiện cơ bản: Thứ nhất: Là một lĩnh vực hoạt động lao động để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng đƣợc những nhu cầu của xã hội; Thứ hai: Ngƣời lao động nhất thiết phải đƣợc đào tạo để có tri thức và những kỹ năng nhất định lao động tạo ra sản phẩm vật chất hay tinh thần thỏa mãn nhu cầu của xã hội. Nghề có những đặc điểm tính chất cơ bản sau: Nghề có tính chất lịch sử xã hội. Vì trong thực tiễn đời sống xã hội nghề luôn luôn chỉ đƣợc hình thành, phát triển và tiêu vong trong những giai đoạn lịch sử xã hội nhất định gắn với những điều kiện phát triển kinh tế, chính trị xã hội nhất định. Nghề có tính chất tƣơng đối ổn định.
Bất kỳ nghề nào xuất hiện trong xã hội đều gắn với điều kiện sản xuất vật chất nhất định trong những hình thái kinh tế xã hội nhất định. Trong thực tiễn cho thấy khi điều kiện sản xuất xã hội biến đổi thì đồng thời cũng dẫn tới sự tiêu vong của nhiều nghề và hình thành ra đời phát triển nhiều nghề mới cùng với sự phát triển các ngành kinh tế, khoa học kỹ thuật, chính trị, tôn giáo… Nghề có tính chất đa dạng, phổ biến: Thực tiễn đời sống sản xuất xã hội luôn luôn diễn ra phong phú đa dạng nhiều vẻ với nhiều lĩnh vực sản xuất vật chất và tinh thần khác nhau nên cũng hình thành nhiều nghề khác nhau. 9 z Nghề có tính khách quan: Mặc dù nghề đƣợc hình thành phát triển, tiêu vong đều xuất phát từ nhận thức thực tiễn của con ngƣời nhằm tạo ra những sản phẩm vất chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu lợi ích của xã hội. Nhƣng sự xuất hiện, phát triển và tiêu vong của nghề đều không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con ngƣời mà đó là do những yếu tố khách quan của hoạt động sản xuất kinh tế xã hội trong một phƣơng thức sản xuất quyết định.
Trên cơ sở sự khái quát về nghề và với đặc điểm mang những tính chất đặc thù khác nhau của các nghề ở các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh tế xã hội, chính trị xã hội, thực nghiệm khoa học, tôn giáo…đã dẫn tới sự phân loại nghề theo những cách thức khác nhau. Song chúng ta có thể phân nghề theo các cách thức sau: * Phân loại nghề theo hình thức lao động (Lĩnh vực lao động). Theo cách phân loại này thì có 2 lĩnh vực khác nhau: Lĩnh vực quản lý, lãnh đạo và lĩnh vực sản xuất. + Lĩnh vực quản lý, lãnh đạo có 10 nhóm nghề: - Lãnh đạo các cơ quan Đảng, Nhà Nƣớc, đoàn thể và các bộ phận trong các cơ quan đó.
- Lãnh đạo doanh nghiệp. - Cán bộ kinh tế, kế hoạch tài chính, thống kê, kế toán. - Cán bộ kỹ thuật công nghiệp - Cán bộ kỹ thuật nông, lâm nghiệp - Cán bộ khoa học giáo dục - Cán bộ văn hóa nghệ thuật - Cán bộ y tế - Cán bộ luật pháp, kiểm sát - Thƣ ký các cơ quan và một số nghề lao động trí óc khác + Lĩnh vực sản xuất có 23 nhóm nghề: 10 z - Làm việc trên các thiết bị động lực. - Khai thác mỏ, dầu, than, hơi đốt, chê biến than (không kể luyện cốc).
- Luyện kim, đúc, luyện cốc. - Chế tạo máy, gia công kim loại, kỹ thuật điện và điện tử, vô tuyến điện. - Công nghiệp hóa chất. - Sản xuất giấy và sản phẩm bằng giấy, bìa.
- Sản xuất vật liệu xây dựng, bê tông, sành sứ, gốm, thủy tinh. - Khai thác và chế biến lâm sản. - Công nghiệp da, da lông, da giả. - Công nghiệp lƣơng thực và thực phẩm.
- Nuôi và đánh bắt thủy sản. - Bƣu chính viễn thông. - Điều khiển máy nâng, chuyển. - Thƣơng nghiệp, cung ứng vật tƣ, phục vụ ăn uống.
- Phục vụ công cộng và sinh hoạt. - Các nghề sản xuất khác. * Phân loại nghề theo đào tạo. Theo cách phân loại này, các nghề đƣợc chia thành 2 loại: - Nghề được đào tạo - Nghề không được đào tạo 11 z Khi trình độ sản xuất và khoa học, công nghệ đƣợc nâng cao, dân cƣ đƣợc phân bố đồng đều trong cả nƣớc thì số nghề cần có sự đào tạo qua các trƣờng lớp sẽ tăng lên.
Ngƣợc lại quốc gia nào có trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất, khoa học và công nghệ chậm phát triển, dân cƣ phân tán thì tỉ lệ nghề không qua đào tạo rất cao. Nƣớc ta đã có danh mục các nghề đƣợc đào tạo, còn các nghề không đƣợc đào tạo rất khó thống kê. Bên cạnh đó còn có rất nhiều nghề đƣợc truyền trong các dòng họ hoặc gia đình, những nghề này rất đa dạng và trong nhiều trƣờng hợp đƣợc giữ bí mật đƣợc gọi là nghề gia truyền. Do vậy, những nghề này đƣợc đào tạo trong gia đình và cũng thƣờng chỉ liên quan đến ngƣời đƣợc chọn để nối tiếp nghề của cha ông.
* Phân loại nghề theo yêu cầu của nghề đối với ngƣời lao động. - Những nghề thuộc lĩnh vực hành chính: Công việc trong nghề hành chính mang tính chất sắp đặt, bố trí, trình bày, phân loại, lƣu trữ. các loại hồ sơ, giấy tờ. Cán bộ nhân viên trong những nghề này thƣờng phải hệ thống hóa, phân loại, xử lý các tài liệu, công văn, sổ sách.
Những chuyên môn thƣờng gặp là nhân viên văn phòng, thƣ ký, kế toán, thông kê, lƣu trữ, kiểm tra, chấm công.