Luận án tiến sĩ về quản lý chất lượng đào tạo tại trường cao đẳng nghề

Chuyên khảo Quản lý chất lượng đào tạo tại trường cao đẳng nghề: tiếp cận quản lý phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Trường đại học

Trường Đại Học Vinh

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

198
13
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THEO TIẾP CẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ

1.1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ Ở NƯỚC TA VÀ KHU VỰC BẮC TRUNG BỘ

1.2. TỔ CHỨC KHẢO SÁT THỰC TRẠNG

1.3. THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO, QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ

1.4. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ

1.5. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THEO TIẾP CẬN TQM

1.6. THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THEO TIẾP CẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ

1.7. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THEO TIẾP CẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ

1.7.1. Những điểm mạnh

1.7.2. Những điểm yếu

1.7.3. Thời cơ và thách thức

2. CHƯƠNG 2: CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THEO TIẾP CẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ

2.1. NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP

2.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển

2.1.2. Đảm bảo tính mục tiêu

2.1.3. Đảm bảo tính thực tiễn

2.1.4. Đảm bảo tính hiệu quả

2.1.5. Đảm bảo tính khả thi

2.2. CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THEO TIẾP CẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ

2.2.1. Tổ chức quán triệt nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, chuyên viên về sự cần thiết phải quản lý CLĐT theo tiếp cận TQM

2.2.2. Xây dựng kế hoạch chiến lược về chất lượng đào tạo và chính sách chất lượng đào tạo của các trường CĐN

2.2.3. Hoàn thiện hệ thống QLCL đào tạo của Trường CĐN theo TQM

2.2.4. Tiến hành kiểm định, đánh giá CLĐT của các trường CĐN

2.2.5. Xây dựng văn hóa chất lượng trong trường CĐN

2.2.6. Đảm bảo các điều kiện để quản lý CLĐT của các trường CĐN theo TQM

2.3. KHẢO SÁT SỰ CẦN THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT

2.3.1. Mục đích khảo sát

2.3.2. Nội dung và phương pháp khảo sát

2.3.3. Đối tượng khảo sát

2.3.4. Kết quả khảo sát về sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất

2.3.5. Tổ chức thử nghiệm

2.3.6. Phân tích kết quả thử nghiệm

3. CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC TÁC GIẢ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt về nguồn nhân lực, chất lượng đào tạo tại các trường cao đẳng nghề (CĐN) trở thành vấn đề cấp bách. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ giúp các cá nhân có cơ hội việc làm tốt hơn mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải cách giáo dục để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động. "Chất lượng nguồn nhân lực được coi là yếu tố quyết định thắng lợi trong cạnh tranh phát triển KT-XH của mỗi quốc gia". Do đó, nghiên cứu về quản lý chất lượng đào tạo theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) là rất cần thiết.

II. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận án này là đề xuất các giải pháp quản lý chất lượng đào tạo tại các trường CĐN theo tiếp cận TQM. Điều này nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và cải thiện khả năng cạnh tranh của sinh viên tốt nghiệp. Luận án không chỉ tập trung vào lý thuyết mà còn khảo sát thực tiễn để đưa ra các giải pháp cụ thể. "Quản lý chất lượng đào tạo có vai trò vô cùng quan trọng giúp nhà trường kiểm soát chất lượng, cải tiến liên tục để nâng cao chất lượng đào tạo". Qua đó, luận án sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Việt Nam.

III. Cơ sở lý luận quản lý chất lượng đào tạo

Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng đào tạo tại các trường CĐN được xây dựng dựa trên các khái niệm cơ bản như chất lượng, quản lý chất lượng và mô hình TQM. Chất lượng đào tạo không chỉ được đo bằng đầu ra mà còn phải xem xét các yếu tố đầu vào và quá trình đào tạo. Theo đó, TQM là một phương pháp quản lý toàn diện, nhấn mạnh sự tham gia của tất cả các thành viên trong tổ chức vào việc nâng cao chất lượng. "Mô hình TQM hướng tới người học; đáp ứng kỳ vọng của người học; đồng thời đòi hỏi mọi thành viên trong nhà trường đều là người tham gia vào quản lý chất lượng". Điều này tạo ra một môi trường học tập tích cực và hiệu quả.

IV. Thực trạng quản lý chất lượng đào tạo

Thực trạng quản lý chất lượng đào tạo tại các trường CĐN hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần khắc phục. Chất lượng đầu vào của sinh viên chưa đáp ứng yêu cầu, quy trình đào tạo còn nhiều bất cập và sự phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp còn yếu. "CLĐT của trường CĐN chưa đáp ứng được đòi hỏi của TTLĐ". Những yếu kém này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đầu ra, gây khó khăn cho sinh viên trong việc tìm kiếm việc làm. Vì vậy, việc cải thiện quản lý chất lượng đào tạo theo tiếp cận TQM là rất cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp.

V. Các giải pháp quản lý chất lượng đào tạo

Luận án đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng đào tạo cho các trường CĐN theo tiếp cận TQM như: nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giảng viên về tầm quan trọng của quản lý chất lượng, xây dựng chính sách chất lượng rõ ràng, và thực hiện kiểm định chất lượng đào tạo. "Tổ chức quán triệt nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, chuyên viên về sự cần thiết phải quản lý CLĐT theo tiếp cận TQM" là một trong những giải pháp quan trọng. Các giải pháp này không chỉ giúp cải thiện chất lượng đào tạo mà còn tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của các trường CĐN.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THEO TIẾP CẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Vấn đề tìm kiếm, xây dựng một mô hình QLCLĐT nói chung, của trường CĐN nói riêng đang được các nhà nghiên cứu quan tâm. QLCLĐT theo tiếp cận TQM đang là một xu hướng được nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đặc biệt chú ý. Do vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước trên những bình diện khác nhau về QLCLĐT và QLCLĐT theo tiếp cận TQM đã ra đời.

Đây là những cơ sở giúp chúng tôi có cái nhìn tổng thể trong quá trình nghiên cứu của mình. Những nghiên cứu về quản lý chất lượng đào tạo của trường CĐN 1. Ở nước ngoài Ở Trung Quốc, Uỷ ban Giáo dục nhà nước Trung Quốc là cơ quan Trung ương quản lý giáo dục ở mọi cấp bậc, việc lập kế hoạch, phát triển, quản lý có phối hợp quản lý của các bộ ngành, các ngành nghề liên quan để sát chuyên môn, tăng hiệu quả đào tạo. Như vậy, QLCL đào tạo nghề cũng do bộ phận này phụ trách [27].

Còn ở Hoa Kỳ, GDNN nói chung, các trường đào tạo nghề nói riêng đều hoạt động theo nguyên tắc tự quản và tự do về học thuật, bộ phận quản lý cao nhất của một trường là ban Quản trị mà các thành viên bên ngoài trường thuộc giới chuyên môn về tài chính, công nghiệp. Các nhà quản lý thường tiến hành khảo sát tại các trường để xác định các vấn đề căn bản mà cấp giáo dục phải đương đầu để có những hiệu chỉnh phù hợp. Như vậy, tại Hoa Kỳ họ coi trọng tự do học thuật trong quản lý CLĐT, có sự kết hợp giữa ban Quản trị nhà trường với giới chuyên môn liên quan đến chuyên ngành đào tạo nhưng có nguyên tắc, có khảo sát thường xuyên và chi phối các nguồn lực đầu tư cho cơ sở đào tạo 9 một cách có căn cứ, tạo chiều sâu và hiệu ứng kép trong QLCLĐT [27]. Mô hình QLĐT nghề Hàn Quốc [3], là một quốc gia phát triển mạnh trong quá trình đổi mới nền kinh tế.

Hàn Quốc đã chú trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề và thành công bởi chính sách đào tạo nghề được thực hiện theo đặt hàng của các doanh nghiệp lớn. Để đáp ứng cơ cấu nhân lực cho nền kinh tế, Chính phủ Hàn Quốc đã có chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực qua đào tạo nghề; đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động ( đào tạo mới và đào tạo lại, đào tạo chuyển đổi) tại doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Hàn Quốc đã phát triển mô hình hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và thị trường để đào tạo nguồn nhân lực. Với sự hỗ trợ mạnh của Chính phủ.

GDNN được Hàn Quốc coi trọng ngay từ cấp trung học. Ngay sau khi tốt nghiệp THCS, học sinh được hướng vào các trường THPT và TCN. Định hướng nghề nghiệp sớm và phân luồng đào tạo đã mang lại hiệu quả cao hơn trong điều chỉnh cơ cấu nhân lực; từ đó, định hướng được rõ nhu cầu đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động theo từng ngành nghề, lĩnh vực. Một trong những thành công của Hàn quốc trong việc đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực cho doanh nghiệp là đã làm tốt công tác dự báo nhu cầu, thông qua định hướng chiến lược phát triển của các tập đoàn, công ty lớn.

Còn ở Nhật bản [3], là quốc gia có hệ thống GDNN chuyên nghiệp và bài bản, cung cấp dịch vụ đào tạo cho người học, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp. Các cơ sở ĐTN được quy hoạch ở các địa phương, với những ngành nghề đào tạo phù hợp với định hướng phát triển của các địa phương, các doanh nghiệp, nhằm cung cấp nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp trên toàn quốc. Các cơ sở ĐTN chú ý vào đào tạo công việc thực tế, hướng tới các kỹ năng mà các doanh nghiệp cần. Thời gian đào tạo của các khóa học được thực hiện linh hoạt, trên cơ sở những kỹ năng mà doanh nghiệp cần.

Nhật Bản thực hiện rất thành công việc hướng nghiệp và đào tạo dạy nghề cho lứa tuổi THCS và THPT nhằm định hướng nghề nghiệp cho HS bằng nhiều phương thức khác nhau. Để nâng cao CLĐT nghề, Nhật Bản chú trọng vào đào tạo GV mới hoặc nâng cao 10 kỹ năng giảng dạy cho GV dạy nghề. GV dạy nghề của Nhật bản được trưởng thành từ các doanh nghiệp và được đưa đi đào tạo, bồi dưỡng ở các nước tiên tiến hơn để trở thành những người Thầy - Thợ cả ( Maister) trong ĐT nghề. Mô hình ĐTN ở Đức [3], các doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng.

Việc học tại doanh nghiệp là một phần trong chương trình đào tạo đã được thiết kế từ đầu của mỗi khóa học. Học sinh chỉ có thể tốt nghiệp khóa học khi đã có sự đánh giá của doanh nghiệp. Bên cạnh đó các Hiệp hội doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc xác định danh mục nghề đào tạo, thiết kế chương trình đào tạo ( trên cơ sở yêu cầu kỹ năng của các các doanh nghiệp). Việc đánh giá, cấp chứng chỉ nghề nghiệp là do doanh nghiệp thực hiện và chứng chỉ này mới có ý nghĩa đối với người học khi vào làm việc tại các doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Chính phủ Đức quy định rất rõ ( trong Luật dạy nghề), các doanh nghiệp phải có trách nhiệm cung cấp các thông tin về nhu cầu sử dụng lao động ( quy mô, cơ cấu, yêu cầu về kỹ năng.) cho một cơ quan Chính phủ là Viện Đào tạo nghề Liên Bang (BiBB). Viện này có trách nhiệm phân tích thông tin và cung cấp lại thông tin cho các cơ sở đào tạo theo từng nhóm ngành nghề, từng trình độ đào tạo để tổ chức đào tạo, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp. Từ các quan điểm qua một số nghiên cứu về QLCLĐT ở các cơ sở GDNN nói chung và các trường CĐN nói riêng ở nước ngoài cho chúng ta những gợi ý quan trọng trong việc lựa chọn những kinh nghiệm góp phần định hình trong nghiên cứu về QLCLĐT của trường CĐN ở nước ta, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thị trường lao động. Ở trong nước Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu (2006) tiếp cận mô hình QLCL giáo dục và đào tạo (CIMO) - “Chất lượng của một hệ thống giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu của hệ thống”.

Mục tiêu của hệ thống giáo dục về cơ bản là: 1. Một hệ thống với các thành phần đều vận hành một cách hiệu quả; 2. Hệ thống tạo nên những sản phẩm (con người được giáo dục và đào tạo) đáp ứng các chuẩn mực giá trị. 11 Chất lượng của một hệ thống giáo dục là chất lượng của những thành tố tạo nên hệ thống (chất lượng đầu vào - chất lượng quá trình quản lý - chất lượng đầu ra).

Do vậy, đánh giá chất lượng của một hệ thống giáo dục là đánh giá chất lượng của các thành tố tạo nên hệ thống đó [9]. Theo Trần Khánh Đức [14], nêu chất lượng đào tạo được thể hiện trong quá trình hành nghề của người tốt nghiệp do đó việc lấy ý kiến đánh giá của người sử dụng lao động, tình hình việc làm và phát triển nghề nghiệp là cơ sở quan trọng để đánh giá CLĐT nghề. Tác giả Trần Kiểm [28] lại xác định đến tiếp cận phức hợp, khi đó nhà quản lý giáo dục nhìn nhận đối tượng quản lý như một chỉnh thể, các thành tố trong quá trình QLCLĐT gắn bó hữu cơ, tương tác lẫn nhau nên quản lý cũng cần có cái nhìn biện chứng, chất lượng ở đây là chất lượng tổng thể, có chăng các thành tố chủ đạo trong đào tạo sẽ cần được đầu tư, coi trọng cải tiến đúng mức nhằm đạt được chất lượng những mục tiêu. Tiếp đó tác giả đề cập đến tiếp cận [28], quản lý dựa vào nhà trường, khi đó người dạy, người học được tham gia một cách dân chủ vào việc quản lý, quyết định những vấn đề liên quan đến cơ sở đào tạo.

Quản lý dựa vào nhà trường có hai tính chất cơ bản: Tăng quyền tự chủ cho cơ sở đào tạo về ngân sách, nhân sự, chương trình đào tạo; Cơ sở đào tạo là cơ sở có quyền ra quyết định, giải quyết các vấn đề nảy sinh ngay tại chỗ với số tham gia đông đảo của các thành viên liên quan. Việc quản lý CLĐT theo tiếp cận tăng quyền tự chủ của các sở đào tạo là một xu thế mới đang được các nước trên thế giới vận dụng. Ở Việt Nam, những thập niên gần đây cũng đã áp dụng phương thức này và góp phần nâng cao hiệu quả, phát triển cơ sở đào tạo theo tiếp cận trách nhiệm, hiệu quả và khẳng định vị thế rõ nét. Còn tác giả Nguyễn Đức Trí [51], đã nêu quan điểm về chất lượng GDNN, đó là đích tới luôn thay đổi và luôn có tính lịch sử; là mức độ đáp ứng các mục tiêu GDNN, bao gồm mục tiêu hệ thống và mục tiêu nhân cách trong sự đa dạng, phức tạp và thường xuyên thay đổi hơn nhiều so với giáo dục phổ 12 thông.

Từ đó, cụ thể hóa chất lượng giáo dục theo quan niệm tương đối gồm chất lượng bên trong và chất lượng bên ngoài. Chất lượng bên trong của giáo dục nghề nghiệp là sự đạt mục tiêu đào tạo (phù hợp tiêu chuẩn đào tạo) do cơ sở giáo dục nghề nghiệp đề ra. Chất lượng bên ngoài của GDNN là sự thỏa mãn những nhu cầu của người sử dụng sản phẩm giáo dục nghề nghiệp (gồm khách hàng bên ngoài nhà trường: người học, cha mẹ học sinh, người sử dụng lao động, chính quyền, xã hội; Khách hàng bên trong nhà trường: đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên). Nhìn chung, chất lượng GDNN tập trung chủ yếu ở chất lượng sản phẩm đầu ra, đáp ứng tiêu chuẩn đào tạo ở các mức độ khác nhau (mang tính chủ quan, bên trong), đáp ứng nhu cầu sử dụng khác nhau, thể hiện phạm vi hay cấp độ của tiêu chuẩn nghề (mang tính khách quan, bên ngoài).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ về quản lý chất lượng đào tạo tại trường cao đẳng nghề của tác giả Nguyễn Xuân Ninh dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Bá Minh tại Trường Đại Học Vinh năm 2017, tập trung vào việc áp dụng tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể trong lĩnh vực giáo dục. Bài viết nêu rõ tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường cao đẳng nghề, đồng thời đề xuất những biện pháp cụ thể nhằm cải thiện quy trình quản lý và đảm bảo chất lượng giáo dục. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích về cách thức quản lý chất lượng trong giáo dục, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác liên quan đến quản lý giáo dục, bạn có thể tìm hiểu thêm qua các bài viết như Luận văn biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường ở trường cao đẳng công nghiệp Nam Định, nơi đề cập đến việc xây dựng văn hóa trong giáo dục, hay Luận án tiến sĩ về phát triển đội ngũ giáo viên các trường dạy nghề tỉnh Phú Thọ, cung cấp cái nhìn sâu sắc về phát triển đội ngũ giáo viên trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về quản lý chất lượng trong giáo dục.