Phần mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ Chƣơng 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trƣờng Cao Đẳng Nghề Quốc Tế Vabis Hồng Lam Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trƣờng Cao Đẳng Nghề Quốc Tế Vabis Hồng Lam Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 123doc 1 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ Trải qua 1 tiến trình dài để hình thành và phát triển từ giai đoạn sơ khai với hình thức ban đầu là kiểm soát tiền ở cuộc Cách mạng công nghiệp vào cuối thế kỷ 19 đến giai đoạn đƣợc chính thức hình thành thông qua công trình nghiên cứu đầu tiên của AICPA về “Kiểm soát nội bộ – các bộ phận cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh ngiệp và đối với Kiểm toán viên độc lập”. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế ở Mỹ và các quốc gia trên thế giới vào những thập niên 1970 – 1980, các vụ gian lận cũng ngày càng lớn và gây tổn thất đáng kể cho nền kinh tế dẫn đến việc Ủy ban chứng khoán Hoa kỳ (SEC – Securities and Exchange Commission) đƣa ra bắt buộc các công ty phải báo cáo về kiểm soát nội bộ đối với công tác kế toán ở đơn vị mình.
Yêu cầu này đã gây ra nhiều tranh luận tập trung vào các tiêu chuẩn để đánh giá tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ và đã dẫn đến một cột mốc lịch sử là thành lập đƣợc Ủy ban COSO ( Committee of Sponsoring Organnization) năm 1985 dƣới sự bảo trợ của 5 tổ chức nghề nghiệp gồm: – Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ (AICPA). – Hiệp Hội kế toán Hoa kỳ (AAA – American Accounting Association). – Hiệp Hội quản trị viên tài chính (FEI – Financial Execitives Institute). – Hiệp hội kế toán viên quản trị (IMA – Institute of Management Accountants).
– Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA – Institute of Internal Auditors). Sau một thời gian dài làm việc, đến năm 1992, COSO đã phát hành Báo cáo. Báo cáo COSO năm 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đã đƣa ra Khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. Đây là hệ thống lý luận đầy đủ nhất về KSNB cho đến thời điểm này.
123doc 2 Báo cáo COSO gồm có 4 phần: – Phần 1: Tóm tắt dành cho ngƣời điều hành. Phần này cung cấp một cái nhìn tổng quát về KSNB ở mức độ cao dành riêng cho các nhà quản lý cao cấp, giám đốc điều hành và các cơ quan quản lý Nhà nƣớc. – Phần 2: Khuôn mẫu của kiểm soát nội bộ. Đây là nội dung cơ bản của Báo cáo COSO, trong đó có định nghĩa về KSNB, các bộ phận hợp thành của KSNB, và các tiêu chuẩn để giúp Ban giám đốc, nhà quản lý và các đối tƣợng khác nghiên cứu để thiết kế, vận hành hay để đánh giá hệ thống KSNB.
– Phần 3: Báo cáo cho đối tƣợng bên ngoài. Đây là tài liệu bổ sung nhằm hƣớng dẫn cho cho các tổ chức cần báo cáo về KSNB cho bên ngoài. – Phần 4: Các công cụ đánh giá kiểm soát nội bộ. Phần này đƣa ra các hƣớng dẫn, gợi ý rất thiết thực cho việc đánh giá hệ thống KSNB.
Báo cáo COSO là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và định nghĩa KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. Đặc điểm nổi bật của báo cáo này là cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó KSNB không chỉ còn là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính (BCTC), mà còn đƣợc mở rộng ra cho cả các phƣơng diện hoạt động và tuân thủ. Giai đoạn hiện đại (từ năm 1992 đến nay) Báo cáo COSO 1992 tuy chƣa thật sự hoàn chỉnh nhƣng đã tạo lập đƣợc cơ sở lý thuyết cơ bản về KSNB. Nhờ đó mà đã có hàng loạt nghiên cứu phát triển về KSNB trên nhiều lĩnh vực khác nhau ra đời nhƣ: - Phát triển theo hƣớng kiểm toán độc lập: Các chuẩn mực kiểm toán của Hoa Kỳ cũng chuyển sang sử dụng Báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá hệ thống KSNB, bao gồm: + SAS 78 (1995): Xem xét KSNB trong kiểm toán BCTC.
+ SAS 94 (2001): Ảnh hƣởng của công nghệ thông tin đến việc xem xét KSNB trong kiểm toán BCTC. Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA – International Standard 123doc 3 on Auditing) cũng sử dụng Báo cáo COSO khi yêu cầu xem xét hệ thống KSNB trong kiểm toán BCTC, cụ thể là: + ISA 315 “Hiểu biết về tình hình kinh doanh, môi trƣờng hoạt động đơn vị và đánh giá rủi ro các sai sót trọng yếu” đã yêu cầu kiểm toán viên cần có hiểu biết đầy đủ về KSNB. + ISA 265 “Thông báo về những khuyết điểm của kiểm soát nội bộ” yêu cầu kiểm toán viên độc lập thông báo những khuyết điểm của KSNB do kiểm toán viên phát hiện đƣợc cho những ngƣời có trách nhiệm trong đơn vị. – Phát triển theo hƣớng công nghệ thông tin: Năm 1996, Bản tiêu chuẩn có tên “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực có liên quan” (CoBIT – Control Objectives for Information and Related Technology) do Hiệp hội về Kiểm soát và Kiểm toán hệ thống thông tin (ISACA – Information System Audit and Control Association) ban hành.
CoBIT nhấn mạnh đến hệ thống kiểm soát trong môi trƣờng tin học, bao gồm các lĩnh vực: hoạch định và tổ chức, mua và triển khai, phân phối và hỗ trợ, giám sát. – Phát triển theo hƣớng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể: Báo cáo Basel (1998) của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS – Basel Committee on Banking Supervision) đã đƣa ra công bố về khuôn khổ KSNB trong ngân hàng (Framework for Internal Control System in Banking Organisations). – Phát triển về phía quản trị: Năm 2001, COSO triển khai nghiên cứu hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM – Enterprise Risk Management Framework), theo đó ERM đƣợc định nghĩa gồm 8 bộ phận cấu thành: Môi trƣờng quản lý nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện tiềm tàng, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. – Phát triển cho doanh nghiệp nhỏ: Năm 2006, COSO nghiên cứu và ban hành hƣớng dẫn “Kiểm soát nội bộ đối với báo cáo tài chính – Hƣớng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ”.
– Phát triển theo hƣớng kiểm toán nội bộ: Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ 123doc 4 định nghĩa các mục tiêu của KSNB gồm: + Độ tin cậy và trung thực của thông tin. + Tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và quy định. + Bảo vệ tài sản. + Sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn lực.
+ Hoàn thành các mục đích và mục tiêu cho các hoạt động và các chƣơng trình. – Hƣớng dẫn về giám sát hệ thống KSNB: COSO cho ra đời Dự thảo Hƣớng dẫn về giám sát hệ thống KSNB (Exposure Draft, COSO 2008) dựa trên khuôn mẫu COSO 1992 nhằm giúp các tổ chức tự giám sát chất lƣợng của hệ thống KSNB. Kiểm soát nội bộ tại Việt Nam Ở Việt Nam, sự ra đời và phát triển lý luận về hệ thống KSNB gắn liền với sự ra đời và phát triển của hoạt động kiểm toán và nhu cầu quản trị của các doanh nghiệp lớn. Vào những năm 1980, khi nhà nƣớc từng bƣớc chuyển nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng XHCN, đặc biệt là khi xuất hiện các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài cùng hình thức công ty cổ phần với quyền quản lý tài sản tách rời quyền sở hữu tài sản, nhu cầu minh bạch thông tin của các nhà quản lý, các nhà đầu tƣ, nhu cầu đƣợc cung cấp thông tin tin cậy về báo cáo tài chính đòi hỏi phải có hệ thống KSNB.
Tiếp đó, sự ra đời của các công ty kiểm toán và Cơ quan kiểm toán nhà nƣớc dẫn đến yêu cầu đánh giá hệ thống KSNB. Thực tế đòi hỏi phải có một nền tảng lý thuyết căn bản về KSNB. Trƣớc tình hình đó, các giáo trình về lý thuyết kiểm toán và kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm soát quản lý lần lƣợt ra đời…từ những năm đầu thập niên 90. Nội dung của các tài liệu này tập trung vào định nghĩa hệ thống KSNB, các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB, vai trò và trách nhiệm của các đối tƣợng có liên quan đến KSNB và giới thiệu trình tự nghiên cứu, phƣơng pháp đánh giá hệ thống KSNB.
Về các văn bản pháp lý: 123doc 5 Tháng 1 năm 1994, chính phủ ban hành Quy chế Kiểm toán độc lập. Tháng 7 năm 1994, thành lập Cơ quan Kiểm toán nhà nƣớc. Tháng 10 năm 1994, Bộ tài chính ban hành quy chế Kiểm toán nội bộ áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nƣớc. Từ tháng 9 năm 1999, Bộ tài chính ban hành các Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA).
Năm 1998, Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam ban hành Quyết định số 03/1998/QĐ – NHNN ngày 3/1/1998 về Quy chế kiểm tra, Kiểm toán nội bộ các tổ chức tín dụng Việt Nam. Năm 2004, Bộ tài chính có Quyết định số 67/2004/QĐ/BTC ngày 13 tháng 8 năm 2004 về việc ban hành “Quy chế về tự kiểm tra tài chính, kế toán tại các cơ quan, đơn vị có sử dụng kinh phí, Ngân sách nhà nƣớc”. Năm 2005, Luật Kiểm toán nhà nƣớc ra đời quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức quản lý sử dụng ngân sách, tiền, tài sản nhà nƣớc trong việc đảm bảo tính chính xác của báo cáo tài chính, bao gồm cả việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ Năm 2011, Luật kiểm toán độc lập ra đời, Luật này quy định nguyên tắc, điều kiện, phạm vi, hình thức hoạt động kiểm toán độc lập; quyền, nghĩa vụ của kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nƣớc ngoài tại Việt Nam và đơn vị đƣợc kiểm toán. Định nghĩa về kiểm soát nội bộ KSNB không phải là một sự kiện, một tình huống diễn ra trong thời gian ngắn mà là cả một quá trình, một chuỗi các hoạt động diễn ra trong mọi lĩnh vực, nó đƣợc xây dựng nhƣ một phần cơ bản trong hoạt động đơn vị chứ không phải là sự bổ sung hoạt động của đơn vị, cũng không phải gánh nặng áp đặt từ nhà quản lý hay thủ tục hành chính.
Trái lại KSNB đƣợc tổ chức tốt sẽ giúp đơn vị đạt đƣợc mục tiêu của mình.