CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Xuất phát từ chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục và đào tạo, đổi mới thi cử 1. Giáo dục và đào tạo luôn luôn được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội ta quan tâm.
Tại điều 61, Hiến pháp 2013 chỉ rõ: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Theo điều 2, Luật Giáo dục 2019: “Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”. Nghị quyết số 29-NQ, ngày 4/11/2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” 1. Tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người”.
Văn kiện cũng chỉ rõ: “Chú trọng giáo dục phẩm chất, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, NXB CTQGST, H. Theo thông tư số 04/2017 của Bộ Giáo dục và đào tạo ngày 25/1/2017 về việc ban hành quy chế thi THPT Quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT. Điều 3 thông tư nêu rõ: “Tổ chức thi 5 bài thi, gồm 3 bài thi độc lập là : Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ và 2 bài thi tổ hợp là Khoa học tự nhiên (tổ hợp các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học; gọi tắt là KHTN), Khoa học xã hội (tổ hợp các môn Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân đối với thí sinh học chương trình Giáo dục THPT; tổ hợp các môn Lịch sử, Địa lí đối với thí sinh học chương trình GDTX cấp THPT; viết tắt là KHXH). Để xét công nhận tốt nghiệp THPT, thí sinh học chương trình Giáo dục THPT phải dự thi 4 bài thi gồm 3 bài thi độc lập là Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ và 1 bài thi do thí sinh tự chọn trong số 2 bài thi tổ hợp, … Để xét tuyển sinh ĐH, CĐ, thí sinh đã tốt nghiệp THPT phải dự thi các bài thi độc lập, bài thi tổ hợp hoặc các môn thi thành phần của bài thi tổ hợp, phù hợp với bài thi, môn thi xét tuyển vào ngành, nhóm ngành theo quy định của trường ĐH, CĐ.
Như vậy môn GDCD lần đầu tiên được đưa vào Kỳ thi THPT Quốc gia trong bài tổ hợp KHXH cùng với môn Lịch sử và Địa lí để xét công nhận tốt nghiệp và xét tuyển vào các trường ĐH, CĐ. Xuất phát từ nhận thức đúng đắn của giáo viên, học sinh và toàn xã hội về vị trí của môn học GDCD trong hệ thống giáo dục quốc dân - Vị trí, vai trò của môn GDCD trong hệ thống giáo dục quốc dân Môn GDCD là môn KHXH có vị trí rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông. nhằm cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, pháp luật…. Môn học này góp phần hình thành nhân cách, phẩm chất, năng lực cho học sinh; Hình thành và phát triển phương pháp suy nghĩ và hành động giúp học sinh trở thành con người có tri thức, phát triển hoàn thiện các mặt: đức, trí, thể, mĩ; Trực tiếp hình thành phẩm chất chính trị, đạo đức tư tưởng cho học sinh về thế giới quan và nhân sinh quan khoa học; Hình thành niềm tin, lý tưởng và ý thức pháp luật cho thế hệ công dân tương lai của đất nước.
Môn GDCD giữ vai trò chủ đạo trong việc hình thành và giáo dục nhân cách cho học sinh thông qua các bài học về lối sống, đạo đức, thế giới quan, phương pháp luận, pháp luật, kinh tế,… Môn học này góp phần bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi của người công dân, đặc biệt là tình cảm, nhận thức, niềm tin, cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật, có kĩ năng sống và bản lĩnh để học tập, làm việc và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế. - Nhận thức của giáo viên, học sinh và toàn xã hội về môn học GDCD Môn học GDCD được đưa vào dạy ở chương trình giáo dục phổ thông từ trước tới nay: Môn Đạo đức ở cấp Tiểu học, môn GDCD ở cấp THCS và THPT. Đây là môn học được các giáo viên, học sinh và toàn xã hội quan tâm, đầu tư trong việc dạy và học nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả môn học trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trước đây, do môn GDCD không phải là môn thi tốt nghiệp hay thi học sinh giỏi, thời lượng môn học lại ít (chỉ 1 tiết/tuần) nên một số giáo viên, học sinh và phụ huynh còn xem nhẹ, coi đây là môn học phụ nên ít đầu tư trong việc dạy và học.
Từ năm học 2007-2008 đến nay ở Nghệ An môn GDCD đưa vào môn thi học sinh giỏi tỉnh ở bậc THCS và THPT nên giáo viên, học sinh và toàn xã hội nhìn nhận môn học này một cách tích cực hơn, việc dạy và học được đầu tư, chú trọng hơn. Điều đặc biệt, từ năm học 2016-2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức đưa môn GDCD vào kì thi tốt nghiệp THPT Quốc gia cùng với môn Lịch sử và Địa lý ở bài thi KHXH với hình thức trắc nghiệm khách quan. Ngoài việc xét công nhận tốt nghiệp, nhiều trường ĐH, CĐ lấy điểm thi tốt nghiệp, điểm học tập môn GDCD làm điểm xét tuyển trong tuyển sinh cho nhiều ngành nghề. Điều này đã làm thay đổi nhận thức trong giáo viên và học sinh về việc dạy và học bộ môn này để có kết quả tốt nhất trong việc xét công nhận tốt nghiệp và tuyển sinh 5 skkn ĐH, CĐ.
Cơ sở thực tiễn Xuất phát từ thực trạng ôn thi tốt nghiệp môn GDCD ở Trường THPT Nam Đàn 2 trong những năm qua 1. Về thuận lợi Trường THPT Nam Đàn 2 đóng trên địa bàn xã Trung Phúc Cường, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, có bề dày lịch sử gần 60 năm xây dựng và trưởng thành. Đây là một vùng quê có truyền thống hiếu học, nhiều người đã đỗ đạt làm rạng danh cho quê hương. Năm học 2021-2022 trường có 30 lớp với hơn 1.200 học sinh, 77 cán bộ, giáo viên, nhân viên.
Trong đó đội ngũ giáo viên môn GDCD gồm 3 người đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, cả 3 giáo viên đều có thời gian công tác từ 20 năm trở lên nhằm đáp ứng tốt yêu cầu dạy học bộ môn này. Được sự quan tâm của Chi bộ Đảng, của Ban giám hiệu và toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên. Trong những năm vừa qua đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Cơ sở vật chất, kĩ thuật của nhà trường ngày càng đầu tư đầy đủ, hiện đại hơn; phòng học được xây dựng kiên cố hóa, đủ số lượng cho việc học một ca; trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học như máy tính kết nối internet, có ti vi hay màn hình máy chiếu ở tất cả các phòng học; các phòng học tiếng, tin học, thực hành thí nghiệm được trang bị đầy đủ; cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp - an toàn; đa số học sinh trong trường có ý thức học tập tốt, luôn vươn lên trong học tập.
Ngoài ra, nhà trường luôn được sự quan tâm của chính quyền các cấp, của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài trường nhằm xây dựng quỹ khuyến học để khen thưởng cho những học sinh có thành tích cao trong học tập cũng như hỗ trợ các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn vươn lên học tập, nên chất lượng giáo dục đại trà và giáo dục mũi nhọn nâng lên rõ rệt, trong đó có chất lượng thi tốt nghiệp THPT, nhiều năm đạt tỷ lệ 100% dẫn đầu các trường THPT trong toàn huyện Nam Đàn. Đối với thi tốt nghiệp THPT, nhà trường, giáo viên, phụ huynh học sinh luôn quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các em chăm lo học tập để đạt kết quả tốt nhất. Ngay từ đầu năm học lớp 12, nhà trường đã cho học sinh đăng ký lựa chọn tổ hợp môn thi để xét công nhận tốt nghiệp. Ở chương trình chính khóa, ngoài số tiết theo phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhà trường còn bổ sung thêm các tiết tự chọn để giáo viên bộ môn và học sinh củng cố, luyện tập, bổ sung thêm kiến thức, Ngoài ra chương trình dạy thêm, học thêm, phụ đạo học sinh yếu kém luôn được nhà trường qua tâm như lên kế hoạch, phân công giáo viên dạy, cho học sinh nghèo mượn sách giáo khoa, miễn giảm học phí đã giúp các em có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập.
6 skkn Sang học kỳ II, học sinh lớp 12 được tổ chức thi thử, được ôn thi tốt nghiệp để củng cố và nâng cao kiến thức nhàm đáp ứng tốt kỳ thi, đối với những học sinh năng lực học tập yếu được bổ sung thêm ôn thi giai đoạn 2. Về khó khăn Là một vùng quê còn gặp nhiều khó khăn, hằng năm còn chịu cảnh thiên tai bão lũ, một số em học sinh và giáo viên nhà ở xa trường nên gặp khó khăn trong việc đi lại đã ảnh hưởng đến việc dạy và học. Chất lượng đại trà đầu vào còn thấp so với các trường công lập trong huyện, trong vùng, hằng năm tỷ lệ tuyển sinh vào lớp 10 đạt từ 90 đến 100% nên công tác dạy và học còn gặp nhiều khó khăn.