Mở đầu (Xác định vấn đề/nhiệm vụ học tập), Hoạt động 2: Hình thành kiến thức mới (giải quyết vấn đề/thực thi nhiệm vụ đặt ra từ Hoạt động 1), Hoạt động 3: Luyện tập, Hoạt động 4: Vận dụng. Như vậy, hoạt động luyện tập, vận dụng là hoạt động cuối cùng của giờ học bao gồm hoạt động luyện tập và hoạt động vận dụng. Hoạt động luyện tập 12 Hoạt động này đôi khi còn được gọi là hoạt động thực hành. Hoạt động này yêu cầu học sinh phải vận dụng trực tiếp những kiến thức đã học ở hoạt động hình thành kiến thức mớiđể giải quyết các nhiệm vụ của bài học đặt ra.
Thông qua các bài tập,nhiệm vụ yêu cầu, giáo viên củng cố tri thức vừa học và rèn luyện các kỹ năng liên quan, kiểm tra mức độ nắm kiến thức bài học của học sinh đã lĩnh hội. Mục đích của hoạt động này yêu cầu học sinh phải vận dụng những kiến thức vừa tiếp thu được ở bước 2 để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể, qua đó giáo viênxem học sinh đã nắm được kiến thức hay chưa,và nắm được ở mức độ nào.Đây là những hoạt động như trình bày, luyện tập, bài thực hành,xử lý các tình huống….giúp cho các em thực hiện tất cả những hiểu biết ở trên lớp và biến những kiến thức thành kỹ năng. Hoạt động luyện tập có thể áp dụng cho cả lớp, cho từng cá nhân, hoặc theo nhóm, theo cặp đôi, theo bàn, theo tổ học sinh để các em học tập lẫn nhau,tự sửa lỗi cho nhau, giúp cho quá trình học tập hiệu quả hơn. Hoạt động vận dụng Hoạt động này có thể hiểu như là hướng tới đánh giá việc học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng ,thể nghiệm giá trị đã được học vào trong cuộc sốngthực tiễn ở gia đình, nhà trường và cộng đồng.
Với hoạt động này, học sinh có thể thực hiện cá nhân hoặc theo nhóm,có thể thực hiện hoạt động tại lớp hoặc tại nhà với sự trợ giúp của người thân trong gia đình. Kết quả cần đạt của hoạt động:Học sinh củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong bài đã học.Học sinh biết vận dụng kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới, đặc biệt trong những tình huống gắn với thực tế đời sống hàng ngày và cảm thấy tự tin khi lĩnh hội và vận dụng kiến thức mới.Giáo viên giúp học sinh thấy được ý nghĩa thực tế của các tri thức, từ đó khắc sâu kiến thức đã học. GV khuyến khích học sinh nghiên cứu,sáng tạo, tìm ra cái mới theo sự hiểu biết của mình; tìm phương pháp giải quyết vấn đề và đưa ra những cách giải quyết vấn đề khác nhau. CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.
Thực trạng của vấn đề Qua khảo sát tình hình tổ chức thực hiện hoạt động thực hành luyện tập và vận dụng của một số GV và HS giáo viên đưa ra các giải pháp tổ chức hoạt động luyện tập, vận dụng mà giáo viên thường thực hiện như sau: *Giải pháp 1: Luyện tập, vận dụng bằng các câu hỏi trong Sách giáo khoa: GV đã tiến hành tổ chức hoạt động luyện tập cho HS theo các câu hỏi tự luận và các bài tập trong sách giáo khoa và chỉ dành thời gian khoảng 3 - 4 phút. Có thể hỏi câu hỏi để HS trả lời là kết thúc phần luyện tập. Thậm chí có GV vì dạy hình thành kiến thức mới chiếm nhiều thời gian nên cắt bỏ luôn phần luyện tập. * Giải pháp 2: Luyện tập bằng các câu hỏi trắc nghiệm: GV đã thiết kế các bài tập trắc nghiệm trên máy chiếu hoặc in ra cho HS làm bài.
HS sẽ trả lời các câu hỏi đó vào phiếu và học thuộc hoặc đứng trả lời từng câu một. Khi ứng dụng công nghệ thông tin, một số giáo viên tổ chức cho học sinh chơi trò chơi ô chữ. Một số ít giáo viên có cho học sinh vẽ sơ đồ củng cố khắc sâu kiến thức cho học sinh. -Ưu điểm: Nhiều học sinh chăm chỉ và có ý thức tự học nên có kiến thức và kĩ năng khá tốt cụ thể là điểm thi khá cao và đạt được học sinh giỏi bộ môn.
- Hạn chế: HS không được luyện tập hoặc có được luyện tập theo hình thức đơn điệu: hỏi – trả lời, HS sẽ nhàm chán với bộ môn. HS ít có cơ hội giao tiếp, làm việc chung với các bạn. Tiết học chưa để lại ấn tượng khiến HS bị kích thích nhu cầu học tập và sáng tạo. HS có thể thuộc làu làu kiến thức nhưng khi luyện tập vận dụng thì lại không làm được, đôi khi các em không hiểu bản chất của vấn đề.
Cách học của HS vẫn đơn giản là cố gắng hoàn thành hết số bài tập GV giao về nhà và học thuộc trong vở ghi chứ không có ý định tự học, tự hoàn thiện và tìm hiểu mở rộng hay vận dụng bài học. Tóm lại, với những thực trạng trên, HS chưa phát huy được phẩm chất, năng lực của mình qua quá trình học tập và chất lượng bộ môn cũng như chất lượng HS giỏi chưa như kì vọng và chưa đáp ứng được yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay. 14 Bảng 1: Kết quả khảo sát chất lượng bộ môn GDKTPL 10 thựcnghiệm đầu năm học 2022 – 2023 (Khi chưa áp dụng sáng kiến) TS Tốt Khá Đạt Chƣa đạt Môn HS SL % SL % SL % SL % GDKT&PL 99 23 23,2 35 35,4 39 39,4 2 2,0 Kết quả khảo sát chất lượng bộ môn GDKTPL 10 thực nghiệm đầu năm học được thể hiện qua biểu đồ 2.4% Đạt Chưa đạt Biểu đồ 2.Kết quả khảo sát chất lượng bộ môn GDKTPL 10 thựcnghiệm đầu năm học 2022 – 2023 (Khi chưa áp dụng sáng kiến) 2. Nguyên nhân của thực trạng Để tìm nguyên nhân của thực trạng tôi tiến hành khảo sát đối với học sinh về mức độ hứng thú với môn học và nguyên nhân không hứng thú với môn học.
Tổng số học sinh tham gia khảo sát: 99 em. Kết quả thu được như sau: Bảng 2: Mức độ hứng thú của học sinh với môn học Nội dung Số học sinh Tỉ lệ 1. Mức độ hứng thú với môn học Hứng thú 31/99 31,3% Bình thường 33/99 33,3% Không hứng thú 35/99 35,4% 15 2. Nguyên nhân (nếu không hứng thú với môn học) Do kiến thức nhiều khó học 18/99 18,2% Do phương pháp giảng dạy của GV 41/99 41,4% Do suy nghĩ môn GDKT&PL chỉ là 40/99 40,4% môn phụ 18.4% Do kiến thức Hứng thú 41.4% nhiều khó học Do phương pháp Bình thường giảng dạy 33.3% suy nghĩ là môn không hứng thú phụ Biểu đồ 2.Mức độ hứng thú của học sinh với môn học và nguyên nhân không hứng thú với môn học.
Nhìn vào biểu đồ 2.2 khảo sát đối với học sinh về mức độ hứng thú với môn học và nguyên nhân không hứng thú với môn học,tôi rút ra được các nguyên nhân sau: Thứ nhất: do giáo viên chưa đưa ra các hình thức phong phú để học sinh thực hiện luyện tập và vận dụng, chưa linh hoạt trong địa điểm học tập của học sinh, chưa có các hình thức đánh giá khích lệ kịp thời nên chưa thu hút được học sinh hứng thú với môn học. Thứ hai: tâm lí “môn phụ” vẫn còn tồn tại ở một số học sinh và cả phụ huynh.Các em vẫn coi trọng các môn Toán, Lý, Hóa, Văn, Tiếng Anh chứ chưa nhận thức được vị trí, vai trò của môn giáo dục kinh tế và pháp luật nên thiếu quan tâm đến việc học môn này. Thứ ba: do một số đối tượng học sinh nhận thức chưa tích cực,chưa có động cơ học tập, chưa chủ động tham gia các hoạt động học tập. GIẢI PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP VÀ VẬN DỤNG MÔN GIÁO DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT LỚP 10 NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH 3.
Giải pháp tổ chức hoạt động luyện tập và vận dụng môn GDKT&PL 10 nhằm phát huy tính tích cực của HS. Giải pháp 1: Xây dựng tình huống có vấn đề, gắn lí thuyết với vấn đề thực tiễn để HS giải quyết Dạy học bằng tình huống có vấn đề được rất nhiều thầy cô áp dụng giảng dạy trong các môn học và môn GDKT&PL cũng không ngoại lệ. Chúng ta đều biết rằng: “Tình huống là những sự kiện, vụ việc, hoàn cảnh có mâu thuẫn, có vấn đề cần được giải quyết”;“Dạy học bằng tình huống là dạy học dựa trên tình huống có thật hoặc giống như thật, đòi hỏi người học phải tìm hiểu, suy nghĩ, đề ra được quyết định thích hợp nhất. Với giải pháp này, GV đưa ra các tình huống cụ thể để buộc các em suy nghĩ, vận dụng các kiến thức đã học và bằng thực tế để các em giải quyết các vấn đề có liên quan đến tiết học.
Đảm bảo tình huống phải mang tính thời sự, sát với thực tế phù hợp với trình độ của HS; tình huống có tính phức tạp vừa đủ, thu hút sự chú ý, kích thích tư duy HS để giải quyết vấn đề. * Các bƣớc tiến hành thực hiện giải pháp: + Bước 1: GV dẫn dắt HS vào tình huống có vấn đề + Bước 2: GV hướng dẫn HS giải quyết vấn đề: GV có thể cho HS thựchiện cá nhân hoặc chia lớp thành các nhóm để giải quyết vấn đềphát sinh. + Bước 3: Tổ chức cho HS giải quyết vấn đềcá nhân hoặc theo nhóm. + Bước 4: GV nhận xét và chốt kiến thức, đánh giá.
Ví dụ: Khi tổ chức hoạt động luyện tập trong Bài 13 : Thực hiện pháp luật.GV tổ chức như sau: a. Mục tiêu: Củngcố kiến thức đã học, phân tích, đánh giá việc thực hiện pháp luật trong một số tình huống. Nội dung: GV yêu cầu HS thảo luận theo nhóm, thực hiện câu hỏi bài tập 1, 2, 3, 4, 5 phần Luyện tập SGK tr.86, 87; HS vận dụng kiến thức đã học, liên hệ thực tế và trả lời câu hỏi. Sản phẩm học tập: Câu trả lời đúng của HS d.
Tổ chức hoạt động: Bƣớc 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập : GV yêu cầu HS làm việc nhóm, mỗi nhóm cử người sắm vai một tình huống. Những người còn lại nghiên cứu đưa ra phương án xử lí tình huống. Khi tham quan khu di tích lịch sử, một bạn trong lớp đề xuất cả nhóm sẽ khắc tên mình lên phiến đá ở cổng khu di tích để lưu lại kỉ niệm khi đến đây. Trên đường đi học về, em gặp một nhóm học sinh đang đua xe máy trên đường, trong đó có một người là bạn em.
Đang trên xe buýt, em phát hiện một thanh niên đang lấy trộm điện thoại của một phụ nữ trên xe buýt. Bƣớc 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm vụ học tập - Các cặp đôi HS dùng kiến thức đã học, liên hệ thực tế và trả lời câu hỏi.