Chương 1: Cơ sở khoa học 1. Cơ sở lý luận Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất của thế giới, tạo ra những cơ hội rất lớn nhưng cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho mỗi quốc gia. Điều này đặt ra cho ngành giáo dục đào tạo một sứ mệnh to lớn là chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Môn Giáo dục kinh tế và pháp luật trong nhà trường THPT trang bị cho học sinh kiến thức về hai lĩnh vực chính là kinh tế và chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Dạy học kinh tế để góp phần giúp học sinh nắm được tình hình kinh tế, xu thế phát triển của nước ta và của thế giới, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, nhân cách cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kì mới. Dạy học pháp luật để giúp cho các em có hiểu biết cơ bản về pháp luật Việt Nam, hình thành kĩ năng sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Tuy nhiên cả hai mảng kiến thức này đều có nhiều khái niệm lí luận trừu tượng, học sinh khó lĩnh hội được kiến thức, quá trình học tập trên lớp sẽ nảy sinh cảm giác tẻ nhạt, nhàm chán, không coi trọng môn học. Hiện nay, chúng ta đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức.
Vì vậy mỗi giáo viên cần trang bị cho mình những kiến thức và năng lực cần thiết, để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đề ra. Đối với giáo viên, dạy học là một nghệ thuật, nghệ thuật trong dạy học môn GDKT&PL là người giáo viên phải biết biến cái khó thành dễ, cái phức tạp, cái trừu tượng thành cái đơn giản, cụ thể bằng cách làm đa dạng hóa các hoạt động để thu hút sự chú ý của học sinh. Muốn vậy giáo viên phải biết vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp trong một giờ dạy đặc biệt là các phương pháp mới, một trong các phương pháp đáp ứng được các yêu cầu đó đó là phương pháp DHDA. Tham gia vào dự án do giáo viên tổ chức là học sinh đã vượt lên chính bản thân mình, chiến thắng tính nhút nhát, hòa mình vào tập thể đồng thời cũng tự mình suy nghĩ, sáng tạo ra cái mới, cách làm mới.
Đây thực sự là cách để học sinh chủ động lĩnh hội, khắc sâu kiến thức bài học, vận dụng kiến thức của bài học vào thực tiễn đời sống. Phát triển năng lực Trong tiếng Việt, năng lực được sử dụng với nhiều nghĩa cụ thể, gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong những tình huống và ngữ cảnh riêng biệt. Khái niệm năng lực bắt nguồn từ tiếng La tinh “competencia”, năng lực có thể hiểu một cách đơn giản là khả năng hoàn thành nhiệm vụ đặt ra, gắn với một loại hoạt động cụ thể nào đó. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của các em, kĩ năng, thái độ và cả sự hứng thú.
Năng lực ở mỗi con người có được nhờ vào sự 3 kiên trì học tập, rèn luyện và tích lũy kinh nghiệm của bản thân trong hoạt động thực tiễn. Phát triển năng lực là phát triển những khả năng hoàn thành nhiệm vụ đặt ra, phát triển nhân cách, trong đó tính tích cực hoạt động và giao lưu của cá nhân đóng vai trò quyết định. Phát triển năng lực ở học sinh bao gồm cả năng lực chung và năng lực chuyên biệt. Năng lực chung là năng lực cơ bản thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội.
Năng lực này được hình thành và phát triển ở nhiều môn học, liên quan đến các môn học khác nhau. Năng lực chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua một lĩnh vực hay một môn học nào đó. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực Một trong những điểm mới và cũng là xu thế của chương trình giáo dục phổ thông mới là chuyển từ dạy học cung cấp nội dung sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học. Đối với nước ta đây là yêu cầu mang tính đột phá trong công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo Nghị quyết 29 của Đảng và Nghị quyết 88 của Quốc hội.
Định hướng phát triển năng lực là đảm bảo hướng tới phát triển năng lực người học chú trọng vào việc thực hành, vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã được trang bị trong quá trình học tập để giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống hằng ngày. Các em biết vận dụng các kiến thức đã học trên nhà trường vào thực tiễn đời sống, tạo được sự tương tác, kết nối mạnh mẽ giữa giáo viên và học sinh. Học sinh được trau dồi vốn trải nghiệm phong phú hơn, được nâng cao khả năng sáng tạo, khai thác tối đa tài năng, tư duy và trí tuệ của mình. Các em không chỉ nắm được tri thức mà còn biết làm chủ những kiến thức đã học.
Thông qua các hình thức tổ chức giáo dục và phương pháp giáo dục sẽ phát huy tiềm năng sáng tạo và tính chủ động của mỗi học sinh. Dựa trên các đặc điểm tâm, sinh lí, khả năng, nhu cầu, hứng thú và định hướng nghề nghiệp khác nhau của từng học sinh mà GV có thể phát huy tối đa những khả năng vốn có của các em. Mục tiêu cuối cùng của dạy học theo định hướng phát triển năng lực không phải là hệ thống kiến thức, khối lượng nội dung, là biết thật nhiều mà là năng lực cần có để sống tốt hơn, làm việc tốt hơn, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội đang thay đổi từng ngày. Việc chú ý phát triển năng lực không có nghĩa là coi nhẹ kiến thức vì vậy không có kiến thức thì không thể có năng lực.
Kiến thức vẫn là điều cốt lõi để tạo ra năng lực. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực yêu cầu HS tham gia tích cực vào giờ học, tự tìm kiếm, phát hiện vấn đề, trao đổi, tranh luận để đi đến hiểu biết về kiến thức và cách làm. Người giáo viên có vai trò quan trọng trong việc nêu vấn đề, giao nhiệm vụ, tổ chức cho học sinh làm việc, trao đổi, thảo luận cùng tham gia với học sinh và hỗ trợ các em khi cần thiết. Giáo viên là người hướng dẫn, để mỗi học sinh có thể tự rèn luyện cho mình những năng lực còn tiềm ẩn, định hướng để HS có thể tiếp thu kiến thức cần thiết và nâng cao khả năng thực hành, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.
Giúp người học có thể chọn cách tiếp nhận các tài liệu học tập, khuyến khích khả năng làm việc độc lập và tự chủ của học 4 sinh, phát triển tối đa các kỹ năng của học sinh để đạt được mục tiêu đề ra. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực chú trọng năng lực vận dụng kiến thức của bài học vào việc giải quyết các tình huống thực tiễn từ đó giúp học sinh áp dụng được những gì đã học vào thực tế cuộc sống. Đồng thời tạo ra những giờ học thú vị, sôi động và cuốn hút học sinh vào các hoạt động tìm tòi, khám phá kiến thức, phát triển các kỹ năng học tập một cách toàn diện để giải quyết vấn đề. Nguyên tắc dạy học theo định hướng phát triển năng lực Đảng ta luôn khẳng định GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho sự phát triển.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lí luận gắn liền với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Chương trình giáo dục phổ thông 2018, với mục tiêu giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có những định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội, có cá tính, phong cách và đời sống tâm hồn phong phú.
Việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực là điều tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Vì vậy khi thực hiện dạy học theo định hướng phát triển năng lực cần tuân theo những nguyên tắc sau: - Người học là chủ thể của quá trình dạy học Sự phát triển của học sinh là điều quan trọng nhất, sự đánh giá học sinh không chỉ qua bài kiểm tra mà còn thể hiện ở sự hình thành các phẩm chất, năng lực của các em, tạo điều kiện để học sinh phát huy các năng lực vốn có của mình, khai thác những năng lực tiềm năng. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực phải đảm bảo các nguyên tắc giáo viên sẽ là người hướng dẫn tạo ra môi trường để học sinh tự chủ thực hiện và khám phá tri thức. - Nội dung và kiến thức là phương tiện để hình thành và phát triển các năng lực ở HS, không có kiến thức thì sẽ không có năng lực.
Vì vậy kiến thức và năng lực bổ sung cho nhau. Từ nội dung kiến thức các em có thể hình thành năng lực, mức độ năng lực phụ thuộc vào mức độ phù hợp của kiến thức mà học sinh huy động vào để giải quyết vấn đề đó. Việc vận dụng kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề xảy ra trong thực tiễn là mục tiêu cần đạt tới. - Để hình thành các năng lực cho học sinh cần có thời gian, nếu chương trình tập trung rèn luyện năng lực thì chỉ nên tập trung vào một số năng lực chọn lọc và lượng kiến thức tương ứng để học sinh có đủ thời gian rèn luyện, kiến tạo và phát triển những năng lực đó.
- Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật hiện đại, các lĩnh vực của đời sống xã hội đang dần phụ thuộc vào nhau, để hiểu và làm chủ tri thức học sinh phải biết tích hợp, lồng ghép kiến thức của nhiều môn học khác nhau, từ đó giúp các em có khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong cuộc sống.