Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TRONG TRUONG TIEU HOC 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 11. Trên thé giới Van dé day học đã được nhiều nhà triết học, nhà giáo dục ở cả phương Đông và phương Tây đề cập đến từ trước công nguyên.
Có thể kể đến các tư. tưởng giáo dục của một nhà triết học - nhà giáo dục chủ yếu dưới đây: Ở phương Tây, Xôcorat (469 ~ 339 trước công nguyên) đã xây dựng được một PPDH mới, đương thời rất có giá trị, được người đời gọi là “Phương pháp đỡ đẻ của Xôcorat”, ở đó, bằng nhiều câu hỏi khác nhau để đưa người học vào tình huống có vấn đề, dưới sự giúp đỡ của thầy thông qua các câu hỏi mà làm. cho học sinh có được trỉ thức mới. Arixtốt (429 - 347 trước công nguyên) đã cho rằng “Muốn giáo dục con người phải xuất phát từ đặc điểm tự nhiên và nhu cầu phát triên của trẻ.
Nếu không tuân thủ quy luật tự nhiên này sẽ dẫn đến sự áp dat giáo dục hoặc bỏ lỡ thời co phát triển của trẻ" [45, tr. Ở phương Đông, nhà giáo dục học vĩ đại người Trung Hoa - Không Tử (S51 - 479 trước Công nguyên) rất coi trọng mặt suy nghĩ tích cực của người hoc. Ong ni hông giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết ba góc mà không suy nghĩ ra góc kia thì không dạy nữa” [45, tr.
60] Đến cuối thế kỉ XVI, khi chủ nghĩa tư bản bắt đầu xuất hiện, vấn đề dạy học và quản lý dạy học đã được nhiều nhà giáo dục thực sự quan tâm, nỗi bật nhất là Cômenxki (1592 - 1670). Ông đã đưa ra hệ thống các nguyên tắc dạy học để chỉ đạo công tác dạy học, đó là: Dạy học phải vừa sức, dạy học phải mang tính trực quan, dạy học phải đám bảo độ bền vững của tri thức, dạy học " phải đảm bảo tính hệ thống, liên tụ. trong đó nguyên tắc trực quan được coi là nguyên tắc quan trọng nhất [45, tr. Nguyên tắc o dục của John Locke (1632 - 1704) là: “Không được nhồi nhét điều gì vào trí nhớ của trẻ mà vốn chúng không thích thú.
cần khơi đậy ở trẻ lòng ham mê say sưa của trẻ, qua đó hướng trẻ đến với tri thức. Phải cung cấp cho trẻ những gì hết sức thiết thực, tránh xa vời không. thực tế, tránh sự giả đối và quan trọng hơn cả là phải phát triển khả năng độc lập suy nghĩ và chủ động trong học tập ở trẻ" [45, tr.J Ruxé (1712 - 1778) coi trọng PPDH mang tính trực quan, đặc biệt coi trọng thí nghiệm, thực hành. PPDH tích cực nhằm biến hoạt động của thầy thành hoạt động của trò và sau khi tích cực hoạt động thì trò nhận thức được.
các quy luật của tự nhiên. Theo ông “Dạy học không chỉ mang tri thức đến cho trẻ mà cái lớn hơn là dạy cho trẻ phương pháp tư duy, phương pháp hành dong” (45, tr. Ở Việt Nam Các nhà khoa học, nhà giáo dục ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về QLGD, quản lý trường học, QLHĐDH. - Nguyễn Ngọc Hợi - Phạm Minh Hùng — Thái Văn Thành khi nghiên cứu về "Một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên” đã khẳng định: *Tùy theo các bậc học, trong từng nội dung hoạt động chuyên môn của GV có thể có những yêu cầu biện pháp khác nhau nhằm góp.
phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD” Bu. - Trin Kiém trong gido trình “Quản lý giáo dục và trường học” (Giáo trình dùng cho học viên cao học Giáo dục học) đã xác định: *QLHĐDH là quá trình dạy của GV và quá trình học của học sinh. Đây là hai quá trình thống nhất gắn bó hữu cơ” [33]. 12 Gần đây nhất, vào năm 2006 Dự án phát triển giáo viên tiểu học đã cho xuất bản tài liệu "Quản lý chuyên môn ở trường tiểu học theo chương trình và sách giáo khoa mới” (Tài liệu bồi dưỡng cán bộ QLGD tiểu học) nhằm cung cấp cho GV và cán bộ QLGD tiêu học ở các cơ quan QLGD, các trường tiêu học những kiến thức, kỹ năng về quản lý chuyên môn để thực hiện tốt chương trình ~ sách giáo khoa mới ở tiểu học” [6].
Như vậy, QLHĐDH thực sự là vấn đề cấp t đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu va ca được tiếp tục nghiên cứu. Với nguồn tư liệu thu thập được, chúng tôi nhận thấy chưa có tác giả nào đề cập và nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài Việc nghiên cứu khoa học được xây dựng trên cơ sở các khái niệm, chủ yếu là các khái niệm “trung tâm”, “cơ bản” thuộc phạm vi đề tài nghiên cứu. Vì vậy, đối với đề tài nghiên cứu này trước hết cần làm rõ các khái niệm cơ.
bản về biện pháp QLHĐDH trong các trường tiểu học huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau được đề cập trong luận văn dưới đây. 1 Quản lý Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý. Dưới đây là một quan niệm chủ yếu. Trước tiên là khái niệm “quản lý", “quản lý” được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học và HĐGD.
Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ở đâu con người tạo lập nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lý, bất kể đó là nhóm không chính thức hay nhóm chính thức, là nhóm nhỏ hay nhóm lớn, là nhóm bạn bè, gia đình hay các đoàn thẻ, tổ chức xã hội: bất kể mục đích, nội dung hoạt động của nhóm đó là gì. Về vấn đề quản lý theo K. Marx thì *Quản lý là lao động điều khiên lao động”, còn theo Mary - Parker Follet (1868 - 1933) nha 13 khoa học chính tri, nha triết học Mỹ, tác giả của một loạt cuốn sách nỗi tiếng về quản lý thì cho rằng “Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”.
Một số nhà nghiên cứu khác thì cho ring “Quan lý là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn tác động tới hoạt đông con người, nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức”. ~ Quản lý là tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến (Nguyễn Ngọc Quang, 1989) [40]. ~ Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội (Trần Kiểm, 1997) (33). Có nhiều góc độ xem xét quản lý: - Góc độ chung nhất: quản lý là vạch ra mục tiêu cho một bộ máy, lựa chọn phương tiện, điều kiện tác động đến bộ máy đề đạt tới mục tiêu.
~ Góc độ kinh tế: quản lý tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra. Nhu vay, quản lý bao gồm các thành phần: ~ Chủ thể quản lý và tác động trong quản lý ~ Mục tiêu quản lý ~ Đối tượng quản lý Có thể xem xét quản lý dưới 2 góc độ: ~ Góc độ tổng hợp mang tính chất chính trị xã hội. ~ Góc độ mang tính chất hành động. Từ những điểm chung của các khái niệm trên, có thể hi : quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể quản lý và đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức đề đạt được mục tiêu đặt 14 ra trong biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành (hoạt động) có hiệu quả.
1 Quản lý giáo dục Giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ đi trước cho thế hệ sau và đề thế hệ sau có trách m kế thừa, phát triển nó cách sáng tạo, làm cho xã hội, giáo duc và bản thân con người phát triển không ngừng. Để đạt mục đích đó, quản lý được coi là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi cơ chế nêu trên. Như vậy, giáo dục và QLGD là tồn tại song hành, nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng xã hội loài người thì cũng có thê nói như thế về QLGD. Giống như khái niệm "quản lý” đã trình bày ở trên, khái niệm "quản lý giáo dục” cũng có nhiều quan niệm khác nhau.
Sau đây tác giả chỉ nêu một vài quan niệm phù hợp với để tài này. Theo Pham Minh Hạc quan niệm “quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch. hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa của Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiền lên trạng thái mới về chất”. Theo Trần Kiểm thì khái niệm “quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ.
Ít nhất có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô. Đối với cấp vĩ mô: QLGD được hiểu là những tác dộng tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cắp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tao thé hé trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo duc. 15 Đối với cấp vi mô: QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tap thé hoc sinh, cha me hoc sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. Những khái niệm trên tuy được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau.