Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Phát triển năng lực Khái niệm năng lực được sử dụng với nhiều nghĩa cụ thể, gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong những tình huống và ngữ cảnh riêng biệt. Năng lực có thể hiểu một cách đơn giản là khả năng hoàn thành nhiệm vụ đặt ra, gắn với một loại hoạt động cụ thể nào đó. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của các em, kĩ năng, thái độ và cả sự hứng thú.
Năng lực ở mỗi con người có được nhờ vào sự kiên trì học tập, rèn luyện và tích lũy kinh nghiệm của bản thân trong hoạt động thực tiễn. Phát triển năng lực là phát triển những khả năng hoàn thành nhiệm vụ đặt ra, phát triển nhân cách, trong đó tính tích cực hoạt động và giao lưu của cá nhân đóng vai trò quyết định. Phát triển năng lực ở học sinh bao gồm cả năng lực chung và năng lực chuyên biệt. Năng lực chung là năng lực cơ bản thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội.
Năng lực này được hình thành và phát triển ở nhiều môn học, liên quan đến các môn học khác nhau. Năng lực chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua một lĩnh vực hay một môn học nào đó. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực Một trong những điểm mới và cũng là xu thế của chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 là chuyển từ dạy học cung cấp nội dung sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học. Đối với nước ta đây là yêu cầu mang tính đột phá trong công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo Nghị quyết 29 của Đảng và Nghị quyết 88 của Quốc hội.
Định hướng phát triển năng lực là đảm bảo hướng tới phát triển năng lực người học chú trọng vào việc thực hành, vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã được trang bị trong quá trình học tập để giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống hằng ngày. Các em biết vận dụng các kiến thức đã học trên nhà trường vào thực tiễn đời sống, tạo được sự tương tác, kết nối mạnh mẽ giữa giáo viên và học sinh. Học sinh được trau dồi vốn trải nghiệm phong phú hơn, được nâng cao khả năng sáng tạo, khai thác tối đa tài năng, tư duy và trí tuệ của mình. Các em không chỉ nắm được tri thức mà còn biết làm chủ những kiến thức đã học.
Thông qua các hình thức tổ chức giáo dục và phương pháp giáo dục sẽ phát huy tiềm năng sáng tạo và tính chủ động của mỗi học sinh. Dựa trên các đặc điểm tâm, sinh lý, khả năng, nhu cầu, hứng thú và định hướng nghề nghiệp khác nhau của từng học sinh mà GV có thể phát huy tối đa những khả năng vốn có của các em. 4 Mục tiêu cuối cùng của dạy học theo định hướng phát triển năng lực không phải là hệ thống kiến thức, khối lượng nội dung, là biết thật nhiều mà là năng lực cần có để sống tốt hơn, làm việc tốt hơn, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội đang thay đổi từng ngày. Việc chú ý phát triển năng lực không có nghĩa là coi nhẹ kiến thức vì vậy không có kiến thức thì không thể có năng lực.
Kiến thức vẫn là điều cốt lõi để tạo ra năng lực. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực yêu cầu HS tham gia tích cực vào giờ học, tự tìm kiếm, phát hiện vấn đề, trao đổi, tranh luận để đi đến hiểu biết về kiến thức và cách làm. Người giáo viên có vai trò quan trọng trong việc nêu vấn đề, giao nhiệm vụ, tổ chức cho học sinh làm việc, trao đổi, thảo luận cùng tham gia với học sinh và hỗ trợ các em khi cần thiết. Giáo viên là người hướng dẫn, để mỗi học sinh có thể tự rèn luyện cho mình những năng lực còn tiềm ẩn, định hướng để HS có thể tiếp thu kiến thức cần thiết và nâng cao khả năng thực hành, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.
Giúp người học có thể chọn cách tiếp nhận các tài liệu học tập, khuyến khích khả năng làm việc độc lập và tự chủ của học sinh, phát triển tối đa các kỹ năng của học sinh để đạt được mục tiêu đề ra. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực chú trọng năng lực vận dụng kiến thức của bài học vào việc giải quyết các tình huống thực tiễn từ đó giúp học sinh áp dụng được những gì đã học vào thực tế cuộc sống. Đồng thời tạo ra những giờ học thú vị, sôi động và cuốn hút học sinh vào các hoạt động tìm tòi, khám phá kiến thức, phát triển các kỹ năng học tập một cách toàn diện để giải quyết vấn đề. Nguyên tắc dạy học theo định hướng phát triển năng lực Đảng ta luôn khẳng định GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho sự phát triển.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lí luận gắn liền với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Chương trình giáo dục phổ thông 2018, với mục tiêu giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có những định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội, có cá tính, phong cách và đời sống tâm hồn phong phú.
Việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực là điều tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Vì vậy khi thực hiện dạy học theo định hướng phát triển năng lực cần tuân theo những nguyên tắc sau: - Người học là chủ thể của quá trình dạy học Sự phát triển của học sinh là điều quan trọng nhất, sự đánh giá học sinh không chỉ qua bài kiểm tra mà còn thể hiện ở sự hình thành các phẩm chất, năng lực của các em, tạo điều kiện để học sinh phát huy các năng lực vốn có của mình, khai thác những năng lực tiềm năng. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực phải đảm bảo các 5 nguyên tắc giáo viên sẽ là người hướng dẫn tạo ra môi trường để học sinh tự chủ thực hiện và khám phá tri thức. - Nội dung và kiến thức là phương tiện để hình thành và phát triển các năng lực ở HS, không có kiến thức thì sẽ không có năng lực.
Vì vậy kiến thức và năng lực bổ sung cho nhau. Từ nội dung kiến thức các em có thể hình thành năng lực, mức độ năng lực phụ thuộc vào mức độ phù hợp của kiến thức mà học sinh huy động vào để giải quyết vấn đề đó. Việc vận dụng kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề xảy ra trong thực tiễn là mục tiêu cần đạt tới. - Để hình thành các năng lực cho học sinh cần có thời gian, nếu chương trình tập trung rèn luyện năng lực thì chỉ nên tập trung vào một số năng lực chọn lọc và lượng kiến thức tương ứng để học sinh có đủ thời gian rèn luyện, kiến tạo và phát triển những năng lực đó.
- Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật hiện đại, các lĩnh vực của đời sống xã hội đang dần phụ thuộc vào nhau, để hiểu và làm chủ tri thức học sinh phải biết tích hợp, lồng ghép kiến thức của nhiều môn học khác nhau, từ đó giúp các em có khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong cuộc sống. - Trong quá trình dạy học cần có sự tích hợp giữa hoạt động học và hoạt động kiểm tra, đánh giá, việc đánh giá học sinh không chỉ thể hiện ở các bài kiểm tra mà giáo viên có thể đa dạng hóa bằng nhiều hình thức khác nhau như thực hiện dự án học tập, bài báo cáo, sản phẩm trải nghiệm. Năng lực điều chỉnh hành vi Môn GDKT&PL góp phần hình thành và phát triển phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học đã được quy định trong Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể với ba năng lực đặc thù cơ bản: - Năng lực điều chỉnh hành vi. - Năng lực phát triển bản thân.
- Năng lực tìm hiểu và tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội. Năng lực điều chỉnh hành vi là một năng lực đặc thù của môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật. Điều chỉnh hành vi có nghĩa là học sinh sẽ tự nhận thức chuẩn mực hành vi, đánh giá hành vi của bản thân và người khác, từ đó sẽ tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật. - Nhận thức chuẩn mực hành vi có nghĩa là: + Hiểu được trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ, xây dựng hoàn thiện hệ thống chính trị, chấp hành Hiến pháp, pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
+ Hiểu được trách nhiệm của công dân trong việc thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về các hoạt động kinh tế, các chuẩn mực đạo đức trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. + Có hiểu biết cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế. - Đánh giá hành vi của bản thân và người khác: 6 + Phân tích, đánh giá được thái độ, hành vi, việc làm của bản thân và người khác trong việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. Phê phán những thái độ, hành vi, việc làm trái chuẩn mực đạo đức, vi phạm pháp luật.
- Điều chỉnh hành vi Điều chỉnh hành vi có nghĩa là tự điều chỉnh và nhắc nhở, giúp đỡ người khác điều chỉnh được cảm xúc, thái độ hành vi phù hợp với chuẩn mực, đạo đức, pháp luật trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân, thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, nhà nước về kinh tế xã hội. Môn GDKT&PL 10 nhằm giáo dục cho học sinh những kiến thức về pháp luật, kinh tế.