CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề chung về năng lực 1. Khái niệm năng lực Nhiều nhà triết học, nhà tâm lý học, nhà giáo dục học trong và ngoài nước đã nghiên cứu về năng lực. Phạm trù năng lực thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau và mỗi cách hiểu đều có những thuật ngữ phù hợp.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Năng lực chính là khả năng, là điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng nhận biết, hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [21]. Theo Cosmovici thì: “Năng lực là sự tổng hợp các đặc điểm của cá nhân. Nó giải thích và làm rõ sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định”.Leonchiev cho rằng: “Năng lực là đặc điểm của mỗi cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”.
Greard và Roegiers (1993) đã coi “Năng lực là tích hợp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng tình huống đó một các tích hợp và một cách tự nhiên.” Nhà tâm lý học A.Rudich lại đưa ra quan niệm về năng lực như sau: Năng lực là tính chất tâm sinh lí của con người. Năng lực đã chi phối quá trình tiếp nhận các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định. Năng lực của con người không chỉ là thành quả của sự kết hợp giữa phát triển và quá trình giáo dục mà năng lực còn là kết quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh nhưng chưa có cơ hội bộc lộ hay còn gọi là năng khiếu. Năng khiếu là năng lực về một hoạt động nào đó và khi trau dồi năng lực đó thì hiệu quả đem lại rất cao.
Nhưng có năng khiếu không có nghĩa là sẽ biến thành năng lực. Muốn năng lực phát triển thì phải có môi trường với đầy đủ điều kiện và phải có sự giáo dục có chủ đích. Để nhấn mạnh đến tính mục đích của năng lực, Phạm Minh Hạc đã định nghĩa như sau: “Năng lực chính là một tổ hợp các đặc điểm tâm lý của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc 17 tính tâm lý của một nhân cách), các tổ hợp đặc 10 điểm này vận hành, thao tác theo một mục đích nhất định để tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy” [7]. Trong các giáo trình tâm lý học, một số tác giả cũng đã đưa ra khá nhiều quan niệm về năng lực.
Đa số các tác giả đều quan niệm năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt như mong đợi. Năng lực vừa là tiền đề vừa là kết quả của hoạt động, năng lực còn là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả như mong muốn nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy. Mục tiêu học tập có tính tổng hợp và đó là các mục tiêu về năng lực. Khi viết về năng lực, Lâm Quang Thiệp cho rằng: “Thật ra năng lực nào đó của một cá nhân chính là sự kết hợp, liên kết của kiến thức, kĩ năng, tình cảm - thái độ được thể hiện trong một hành động và tình huống cụ thể” [27].
Tác giả Lương Việt Thái coi năng lực là khả năng đơn lẻ, riêng biệt của mỗi cá nhân, được hình thành dựa trên sự kết hợp các mảng kiến thức, kĩ năng cụ thể. Với cách hiểu này, việc đánh giá năng lực của người học được dựa trên các kết quả có thể nhìn thấy qua sự đánh giá , nhận xét của giáo viên, qua điểm thi và các kì kiểm tra. Tác giả phân tích rõ hơn: Năng lực biểu lộ ở tính nhanh, tính dễ dàng, chất lượng tiếp nhận và thực hiện hoạt động, ở bề rộng của di chuyển, tính sáng tạo, tính độc đáo của hoạt động và kết quả của hoạt động giải quyết những yêu cầu mới. Đồng thời, những năng lực còn liên quan đến khả năng phán đoán, nhận thức, hứng thú và tình cảm [26].
Khi nói đến năng lực các nhà nghiên cứu luôn đề cập tới xu thế đạt được một kết quả trong một lĩnh vực cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực dạy học của hoạt động giảng dạy. Năng lực không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, nó chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có. Năng lực có tính mở, nhiều tầng bậc, nhiều thành tố, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội… Năng lực thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong một tình 11 huống có ý nghĩa, trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội. Năng lực mỗi người được hình thành và phát triển trong hoạt động và bộc lộ trong quá trình hoạt động nên năng lực có các dấu hiệu nhận biết được thể hiện ở kiến thức, kĩ năng, thái độ có liên quan đến hoạt động.
Nhờ vào các dấu hiệu này, chúng ta có thể nhận biết và đánh giá năng lực của mỗi người. Trong đề tài này, chúng tôi thống nhất với quan điểm về năng lực được đề cập trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. Năng lực của mỗi cá nhân được nhìn nhận, đánh giá qua phương thức hoạt động và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các tình huống có vấn đề trong cuộc sống” [2]. Năng lực toán học cần hình thành và phát triển cho học sinh tiểu học 1.
Năng lực chung và năng lực đặc thù Tại Hội thảo “Những nội dung chính của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới” (12-13/4/2015) đã xác định chương trình giáo dục phổ thông nhằm hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực chung chủ yếu sau: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ và giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực tính toán, năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực thẩm mĩ và năng lực thể chất [3]. Trong chương trình giáo dục phổ thông mới các em học sinh không chỉ được phát triển 5 phẩm chất mà còn được hình thành và phát triển 10 năng lực thiết yếu để từ đó phát huy và vận dụng tối đa khả năng của mình vào thực tiễn. 10 năng lực đó được chia ra thành hai nhóm năng lực chính là năng lực chung và năng lực chuyên môn. Năng lực chung làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong học tập, trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp.
Nói đến năng lực chung là phải nói được sự hình thành và phát triển dựa trên những cái đã sẵn có. Những năng 12 lực chung sẽ được nhà trường và giáo viên giúp các em học sinh phát triển trong chương trình giáo dục phổ thông là: Tự chủ và tự học, kỹ năng giao tiếp và hợp tác nhóm với các thành viên khác, giải quyết vấn đề theo nhiều cách khác nhau một cách sáng tạo và triệt để. Năng lực đặc thù là những năng lực được hình thành và phát triển dựa trên cơ sở của các năng lực chung nhưng theo định hướng chuyên sâu, đặc trưng, riêng biệt trong các hình thức hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động nào đó. Đây cũng được xem như một năng khiếu, giúp các em mở rộng và phát huy bản thân mình nhiều hơn.
Các năng lực này được rèn luyện và phát triển trong chương trình giáo dục phổ thông mới là: Ngôn ngữ, Tính toán, Thể chất, Thẩm mỹ,… Sự phân biệt giữa năng lực chung và năng lực chuyên biệt là cần thiết, tuy nhiên giữa hai năng lực này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau nên nhiều khi ranh giới giữa chúng không rõ ràng. Chẳng hạn, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là năng lực chung nhưng trong bất kì môn học nào cũng yêu cầu vận dụng những kiến thức đã học vào giải quyết vấn đề thực tiễn, môn học nào cũng yêu cầu sự sáng tạo. Năng lực chung và năng lực đặc thù đều được hình thành và phát triển thông qua các môn học, hoạt động giáo dục; năng lực đặc thù vừa là mục tiêu vừa là “đơn vị thao tác” trong các hoạt động dạy học, giáo dục; góp phần hình thành và phát triển các năng lực chung. Năng lực toán học cần hình thành và phát triển cho học sinh tiểu học Dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh là chuyển đổi từ việc “học sinh cần phải biết gì” sang việc “phải biết và có thể làm gì” trong các tình huống và bối cảnh khác nhau.
Do đó dạy học theo hướng phát triển năng lựchọc sinh chú trọng lấy học sinh làm trung tâm và giáo viên là người hướng dẫn, giúp các em chủ động trong việc đạt được năng lực theo yêu cầu đặt ra, phù hợp với đặc điểm cá nhân. 13 Năng lực toán học được nhiều nước trên thế giới đặc biệt quan tâm. Năng lực toán học được quan tâm trong lĩnh vực nghiên cứu và thực hiện, trong đó đặc biệt chú ý đến việc phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu về Toán. Hiện nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa có được định nghĩa thống nhất về năng lực toán.
Năng lực toán học là khả năng của một cá nhân có thể nhận biết, có thể lập được công thức, biết vận dụng và giải thích toán học trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Nó bao gồm khả năng suy luận toán học và sử dụng các khái niệm, phương pháp, sự việc và công cụ để mô tả, lý giải và dự đoán các hiện tượng. Năng lực toán học giúp cho con người nhận ra vai trò của toán học trên thế giới và đưa ra những phán đoán, quyết định, đóng góp ý, tham gia và suy ngẫm”.