Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công (mã số: 9 34 04 03) với đề tài "Quản lý các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở Việt Nam hiện nay" được nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Viên thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thị Vân Hạnh và PGS. Lê Minh Quân (năm 2019). Công trình tiếp cận trường chính trị cấp tỉnh dưới giác độ một loại hình cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đặc thù của hệ thống chính trị Việt Nam, lấy hoạt động quản lý nhà nước đối với thiết chế này làm trung tâm giải quyết.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định dựa trên bốn luận cứ thực tiễn và lý luận:

  1. Trường chính trị là đơn vị sự nghiệp trực thuộc tỉnh ủy hoặc thành ủy, đảm nhận chức năng cung ứng dịch vụ công về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cho hệ thống chính trị địa phương. Do cung cấp nguồn nhân lực công cho bộ máy nhà nước và đoàn thể, thiết chế này đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước.
  2. Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức mang tính quyết định đối với chất lượng vận hành nền hành chính. Dù số lượng đào tạo hằng năm tại 63 trường chính trị rất lớn, công tác đào tạo, bồi dưỡng vẫn bộc lộ hạn chế, chậm đổi mới, việc triển khai Quyết định số 184-QĐ/TW thiếu nghiêm túc và đồng bộ; nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ nhận thức và công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của cấp ủy, chính quyền các cấp.
  3. Hoạt động quản lý đối với các trường chính trị còn nhiều bất cập, chồng chéo và phân tán thẩm quyền. Về lịch sử, trường chính trị trải qua nhiều lần chia tách và sáp nhập phức tạp (trước năm 1994 là trường Đảng độc lập với trường hành chính; từ năm 1994 đến tháng 11/2018 trực thuộc song trùng cả tỉnh ủy/thành ủy và ủy ban nhân dân cấp tỉnh; từ tháng 11/2018 chỉ trực thuộc tỉnh ủy/thành ủy). Tổ chức bộ máy do Ban Thường vụ tỉnh ủy/thành ủy quản lý theo hướng dẫn của Ban Bí thư và Ban Tổ chức Trung ương; chương trình, nội dung đào tạo do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh quản lý; ngân sách tài chính do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bảo đảm; quản lý giảng viên chịu sự điều chỉnh của cả Ban Tổ chức Trung ương và Bộ Nội vụ. Thêm vào đó, việc quản lý chủ yếu dựa trên các văn bản của Đảng mà thiếu vắng các chế định pháp luật của Nhà nước.
  4. Khoảng trống lý luận về quản lý các trường chính trị còn lớn. Các công trình trước đây chỉ tiếp cận trường chính trị từ khoa học giáo dục hoặc khoa học chính trị, chưa có nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ khoa học quản lý công và quản lý nhà nước.

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý các trường chính trị, luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý đối với các trường chính trị cấp tỉnh ở Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định qua 4 nội dung:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài để xác định các luận điểm kế thừa, những vấn đề tranh luận và khoảng trống nghiên cứu.
  2. Xây dựng khung lý thuyết về quản lý các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; làm rõ khái niệm, sự cần thiết, nội dung, yếu tố ảnh hưởng và bài học kinh nghiệm quốc tế áp dụng cho Việt Nam.
  3. Đánh giá, phân tích thực trạng và các vấn đề đặt ra trong quản lý các trường chính trị ở Việt Nam hiện nay.
  4. Đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với các trường chính trị hiện nay và những năm tiếp theo.

Giả thuyết khoa học: Chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của trường chính trị chưa cao xuất phát từ nguyên nhân công tác quản lý nhà nước đối với trường chính trị chưa được chú trọng, còn buông lỏng, chồng chéo giữa các cơ quan quản lý, công cụ và phương pháp quản lý còn yếu và thiếu. Nếu việc quản lý nhà nước đối với các trường chính trị bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thì sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng của hệ thống này.

Năm câu hỏi nghiên cứu của đề tài gồm:

  1. Trường chính trị là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đặc thù của Việt Nam, tính đặc thù thể hiện ở những điểm nào?
  2. Vì sao nhà nước phải quản lý các trường chính trị và quản lý những nội dung gì?
  3. Có thể vận dụng những kinh nghiệm nào của một số quốc gia về quản lý cơ sở đào tạo công chức vào việc quản lý các trường chính trị của Việt Nam?
  4. Thực trạng quản lý các trường chính trị ở Việt Nam hiện nay như thế nào và đang đặt ra những vấn đề gì cần giải quyết?
  5. Cần thực hiện những quan điểm và giải pháp nào để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý đối với các trường chính trị?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý nhà nước đối với các trường chính trị ở Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động quản lý đối với các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tại 63 trường chính trị trên toàn quốc (bao gồm cả các trường mang tên trường đào tạo cán bộ tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh nhưng có chung bản chất, chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Ban Bí thư).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát từ năm 2008 (thời điểm ban hành Quyết định số 184-QĐ/TW của Ban Bí thư khóa X) đến năm 2019 và định hướng các năm tiếp theo.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án phân chia các công trình nghiên cứu tiền nhiệm thành ba nhóm chủ đề chính:

Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.

  • Về bản chất và mục tiêu: Lưu Kiếm Thanh (2012) phân tích sự khác biệt về đối tượng, mục tiêu của đào tạo, bồi dưỡng nhằm chuẩn hóa và lấp đầy khoảng trống năng lực; Huỳnh Văn Thới (2011) coi đào tạo, bồi dưỡng là phương thức còn nâng cao năng lực là mục đích; Lại Đức Vượng (2009) xác định ba chức năng gồm truyền thụ tri thức, đánh giá và phát triển; Trần Thị Thanh Thủy (2010) nêu ba mục tiêu nâng cao năng lực, phát triển cá nhân và giảm thiểu thời gian học tập.
  • Về thực trạng và yêu cầu đổi mới: Ngô Thành Can (2010), Phạm Thị Quỳnh Hoa (2012), Phạm Đức Chính (2012), Đinh Văn Tiến và Thái Vân Hà (2013) làm rõ những bất cập trong tổ chức đào tạo và gợi ý hướng đổi mới.
  • Về phương pháp giảng dạy và đánh giá: Đinh Văn Tiến (1999), Bùi Đức Kháng (2007) nhấn mạnh việc đổi mới phương pháp sư phạm hành chính; Nguyễn Thị Thu Vân (2009), Lê Thị Vân Hạnh (2009), Nguyễn Hữu Hải (2008) phân tích tiêu chí đánh giá kết quả học tập gắn với năng lực thực tiễn và trách nhiệm của đơn vị sử dụng lao động.
  • Về kinh nghiệm quốc tế: Nguyễn Thị Thu Vân (2013), Ngô Thành Can (2008 về Cộng hòa Pháp), Đoàn Kim Huy (2017 về Nhật Bản), Nguyễn Thành Lợi (2009 về Vương quốc Anh) giới thiệu mô hình đào tạo công chức ở các nước phát triển.
  • Về đào tạo theo vị trí việc làm và chức danh: Bùi Huy Khiên (2015), Vũ Thanh Xuân (2013), Đặng Khắc Ánh (2012), Đoàn Văn Dũng (2012), Đặng Thị Mai Hương (2012), Đinh Văn Mậu, Nguyễn Văn Hậu, Nguyễn Ngọc Vân (2005) khẳng định tính tất yếu của việc chuyển dịch từ đào tạo theo tiêu chuẩn ngạch sang đào tạo theo khung vị trí việc làm và chức danh lãnh đạo, quản lý.

Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu về trường chính trị.

  • Về mô hình phát triển: Nguyễn Văn Thắng và nhóm nghiên cứu (2014) đề xuất 12 tiêu chí xây dựng mô hình chuẩn cho trường chính trị cấp tỉnh; Đặng Thị Bích Liên (2009) nghiên cứu mô hình quản lý cơ sở đào tạo bồi dưỡng chính trị cấp huyện; Huỳnh Minh Đoàn (2007) xác định phương hướng phát triển trường chính trị tỉnh; Nguyễn Minh Tuấn (2018) chỉ ra tính thiếu hệ thống, phân tán giữa các cơ sở đào tạo lý luận chính trị và kiến nghị đưa trường chính trị về một đầu mối cơ quan chủ quản là tỉnh ủy/thành ủy.
  • Về phát triển nhân sự và giảng viên: Lương Trọng Thành (2017), Nguyễn Văn Thắng và cộng sự (2018) nghiên cứu đội ngũ cán bộ quản lý; Nguyễn Đình Trãi (2001) nghiên cứu nâng cao năng lực tư duy lý luận Mác - Lênin; Nguyễn Mạnh Hải (2015) đề xuất khung năng lực cho giảng viên trường chính trị miền núi phía Bắc; Bùi Hải Dương (2017) khảo sát giảng viên lý luận chính trị vùng Đồng bằng sông Cửu Long; Nguyễn Văn Biết (2014) và Nguyễn Thị Châu (2015) phân tích các rào cản và giải pháp nâng cao chuyên môn của đội ngũ giảng dạy.

Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng.

  • Trong nước: Đặng Xuân Hải (2005), Phan Huy Hùng (2009), Trương Đình Chiến (2013 - mô hình ánh sáng trắng tại Tây Nguyên), Nguyễn Khánh Tường (2014), Lê Đức Cảnh (2016 - quản lý trường giáo dưỡng). Các học giả như Trần Hồng Quân (2012), Vũ Ngọc Hoàng, Hoàng Tụy (2005) đề xuất trao quyền tự chủ, xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản và chuyển trọng tâm sang quản lý chất lượng đầu ra.
  • Ngoài nước: Paul Samuel (1983) phân loại bốn nhóm tổ chức đào tạo hành chính công ở các nước đang phát triển; Barbara Bruns, Deon Filmer và Harry Anthony Patinos (2011) nghiên cứu phân cấp trách nhiệm giải trình và vai trò của hội đồng trường; John E. Chubb và Terry M. Moe (1988) so sánh phương thức kiểm soát của chính trị và thị trường giữa khu vực công và tư; Jamil Salmi (2009) và Geoff Scott (2003) thảo luận về tự chủ đại học và tính chất dịch vụ công của giáo dục.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra:

  1. Chưa có khái niệm học thuật chuẩn xác, đầy đủ về cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và khái niệm quản lý cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức / quản lý trường chính trị.
  2. Các nghiên cứu về trường chính trị chỉ tiếp cận dưới góc độ khoa học giáo dục và khoa học chính trị, chưa tiếp cận theo chuyên ngành quản lý công để làm sáng tỏ các nội dung quản lý nhà nước đối với thiết chế này.
  3. Nghiên cứu quản lý nhà nước đối với cơ sở đào tạo chủ yếu giới hạn trong các trường đại học, phổ thông thuộc hệ thống giáo dục quốc dân hoặc trường giáo dưỡng, chưa giải quyết loại hình trường chính trị vốn có chức năng, đối tượng và cơ quan quản lý hoàn toàn khác biệt.
  4. Thiếu vắng các công trình nghiên cứu về tiêu chí đánh giá chất lượng toàn diện của một cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
  5. Chưa có nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm quốc tế về quản lý cơ sở đào tạo công chức để chắt lọc bài học ứng dụng vào hệ thống trường chính trị Việt Nam.
  6. Các văn bản, báo cáo của cơ quan quản lý chưa phản ánh toàn diện các mâu thuẫn, tồn tại trong việc phân công, phối hợp quản lý trường chính trị hiện nay.
  7. Chưa có công trình nào đưa ra hệ thống quan điểm, giải pháp đồng bộ về quản lý nhà nước đối với các trường chính trị trên phạm vi cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết quản trị công, lý thuyết phân cấp quản lý và các quy định pháp lý hiện hành của Việt Nam:

  • Khái niệm công cụ: Luận án phân tích khái niệm kép "đào tạo, bồi dưỡng", trong đó đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận tri thức theo cấp bậc nhằm đạt chuẩn năng lực tiếp nhận phân công lao động xã hội; bồi dưỡng là hoạt động cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ trên nền tảng sẵn có. Khái niệm "cán bộ" và "công chức" được luận án xác định chuẩn xác dựa trên Luật Cán bộ, công chức năm 2008. Từ đó, luận án xây dựng định nghĩa về cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và xác lập nội hàm của quản lý nhà nước đối với các cơ sở này.
  • Nội dung quản lý: Khung phân tích quản lý đối với trường chính trị bao gồm ba nhóm hoạt động chính: Định hướng (hoạch định chiến lược, ban hành thể chế pháp lý, quy hoạch mạng lưới); Hỗ trợ (cung cấp nguồn lực ngân sách, cơ sở vật chất, phát triển đội ngũ giảng viên); Kiểm soát (thanh tra, kiểm tra, kiểm định chất lượng, giám sát chuẩn đầu ra).

Phương pháp luận: Luận án vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ ("cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng"). Quá trình nghiên cứu đặt thiết chế trường chính trị trong sự vận động khách quan của lịch sử, văn hóa tổ chức và bối cảnh cải cách hành chính nhà nước.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Thu thập, xử lý hệ thống văn kiện, nghị quyết của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và các tài liệu chuyên khảo tại Thư viện Quốc gia, Học viện Hành chính Quốc gia, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
    • Phương pháp hệ thống hóa: Phân loại, kết cấu các luồng dữ liệu theo từng thành tố quản lý (tổ chức bộ máy, chương trình, nhân sự, tài chính, kiểm soát).
    • Phương pháp lịch sử: Phân tích tiến trình hình thành, chia tách, hợp nhất trường chính trị qua từng thời kỳ cách mạng.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp quan sát thực tế: Khảo sát trực tiếp tại các trường chính trị về tác phong làm việc của hiệu trưởng, môi trường văn hóa tổ chức và phương pháp sư phạm của giảng viên.
    • Phương pháp chuyên gia: Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến với bảng tiêu chí cụ thể (tại Phụ lục 2) đối với các nhóm chuyên gia: cán bộ lãnh đạo, chuyên viên Vụ Cán bộ, công chức, viên chức (Bộ Nội vụ); Vụ Điều lệ (Ban Tổ chức Trung ương); Ban Tổ chức tỉnh ủy, thành ủy; người đứng đầu trường chính trị và học viên đã qua đào tạo.
    • Phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa: Xử lý dữ liệu từ các báo cáo tổng kết hằng năm của 63 trường chính trị và các cơ quan phối hợp quản lý ở trung ương và địa phương.

Nguồn tư liệu, dữ liệu: Dữ liệu thống kê về mạng lưới, cơ cấu tổ chức, nhân sự lãnh đạo và giảng viên do Vụ Các trường chính trị (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) phối hợp cung cấp, cùng hệ thống văn bản của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ và Bộ Nội vụ ban hành từ năm 2008 đến năm 2018.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan trực tiếp đến đề tài, chia thành 3 mảng nội dung chính: hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; tổ chức và nhân sự trường chính trị; quản lý nhà nước đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng. Tác giả chỉ ra rằng đa phần các công trình nghiên cứu trường chính trị trước đây chỉ xem xét nội bộ tổ chức hoặc thuần túy về mặt sư phạm, lý luận chính trị, chưa xem trường chính trị là đối tượng chịu sự điều chỉnh của quản lý nhà nước trong chuyên ngành quản lý công. Chương này khẳng định tính cấp thiết phải giải quyết 7 khoảng trống tri thức nhằm đặt nền móng lý thuyết và thực tiễn cho đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận về quản lý các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Chương 2 làm rõ bản chất của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức với tính cách là một tổ chức cung ứng dịch vụ công phi lợi nhuận phục vụ sự vận hành của bộ máy công quyền. Luận án phân tích khái niệm cán bộ, công chức theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 của Việt Nam và đối chiếu với khái niệm công chức tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Trung Quốc. Tác giả luận giải sự cần thiết khách quan của việc quản lý nhà nước đối với các cơ sở này, xác lập 3 trụ cột nội dung quản lý gồm: định hướng, hỗ trợ và kiểm soát. Đồng thời, tác giả nghiên cứu kinh nghiệm quản lý cơ sở đào tạo công chức tại các quốc gia đại diện cho các mô hình hành chính điển hình (Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc), từ đó rút ra các giá trị tham khảo cho Việt Nam về chuẩn hóa chương trình, phân định thẩm quyền và kết hợp đào tạo theo vị trí việc làm.

Chương 3: Thực trạng quản lý các trường chính trị ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 trình bày bức tranh toàn diện về hệ thống 63 trường chính trị trên toàn quốc. Tác giả phân tích tính chất đặc thù của trường chính trị: vừa là đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh ủy/thành ủy, vừa thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng quản lý nhà nước cho công chức hành chính theo ủy quyền của cơ quan hành chính nhà nước.

Tiêu chí Trước tháng 11/2018 (Quyết định 184-QĐ/TW) Từ tháng 11/2018 (Quy định 09-QĐi/TW)
Cơ quan chủ quản Song trùng trực thuộc: Tỉnh ủy/Thành ủy và UBND tỉnh/thành phố Trực thuộc Tỉnh ủy/Thành ủy
Quản lý bộ máy, biên chế Ban Thường vụ tỉnh ủy quyết định theo thẩm quyền Tỉnh ủy/Thành ủy lãnh đạo trực tiếp và toàn diện
Quản lý chuyên môn, chương trình Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh hướng dẫn, quản lý Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thống nhất quản lý
Quản lý tài chính, ngân sách UBND cấp tỉnh phân bổ và kiểm soát chi UBND cấp tỉnh bảo đảm kinh phí hoạt động sự nghiệp
Quản lý đội ngũ giảng viên Tỉnh ủy, Ban Tổ chức, Bộ Nội vụ và Sở Nội vụ phối hợp Tỉnh ủy quản lý gắn với tiêu chuẩn ngạch của Bộ Nội vụ

Luận án đánh giá ba phương diện quản lý thực tế:

  • Hoạt động định hướng: Ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, phê duyệt kế hoạch đào tạo hằng năm, nhưng cơ sở pháp lý chưa được thể chế hóa đầy đủ bằng luật.
  • Hoạt động hỗ trợ: Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, cấp phát ngân sách đào tạo, tập huấn phương pháp sư phạm cho giảng viên; tuy nhiên việc đầu tư còn chênh lệch lớn giữa các vùng miền.
  • Hoạt động kiểm soát: Hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chuyên môn nhà nước còn mờ nhạt, thiếu chế tài xử lý sai phạm về quản lý đào tạo và thiếu bộ tiêu chí đánh giá chuẩn đầu ra.

Hệ thống bảng số liệu phản ánh trong chương:

  • Danh mục hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Việt Nam (phân tầng trung ương và địa phương).
  • Cơ cấu tổ chức bộ máy chuẩn của một trường chính trị cấp tỉnh (các khoa chuyên môn và phòng chức năng).
  • Thống kê trình độ chuyên môn của đội ngũ lãnh đạo trường chính trị (tiến sĩ, thạc sĩ, đại học).
  • Cơ cấu thành phần người đứng đầu trường chính trị (nguồn cán bộ điều động luân chuyển và nguồn bổ nhiệm tại chỗ).
  • Trình độ học vị, chức danh nghề nghiệp của giảng viên các trường chính trị trên toàn quốc.

Những bất cập lớn được phát hiện bao gồm: tình trạng phân tán quyền lực quản lý; sự buông lỏng của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành (Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ); việc áp dụng chế độ tự chủ tài chính theo Nghị định đối với đơn vị sự nghiệp công lập tại trường chính trị gặp nhiều mâu thuẫn; sự thiếu chuẩn hóa về khung năng lực giảng viên và chương trình đào tạo bị trùng lắp kiến thức.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý các trường chính trị ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 xác định 4 quan điểm định hướng:

  1. Quản lý trường chính trị phải trên cơ sở quy định của pháp luật.
  2. Quản lý trường chính trị phải đảm bảo tính hệ thống, thống nhất chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương, giữa tổ chức Đảng và cơ quan Nhà nước.
  3. Quản lý trường chính trị phải kết hợp thực hiện mục tiêu cải cách hành chính nhà nước.
  4. Quản lý trường chính trị phải đảm bảo nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng thực chất.

Trên nền tảng quan điểm đó, luận án đề xuất 6 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến trường chính trị: Thể chế hóa các chủ trương, quy định của Đảng thành các văn bản quy phạm pháp luật hành chính; xác định rõ địa vị pháp lý của trường chính trị trong hệ thống pháp luật về giáo dục, đào tạo và đơn vị sự nghiệp công lập.
  2. Đổi mới mô hình tổ chức trường chính trị: Tinh gọn các phòng, khoa theo hướng hoạt động đa chức năng; làm rõ phân cấp quản lý giữa Tỉnh ủy và UBND cấp tỉnh, tránh tình trạng chồng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
  3. Thay đổi phương thức quản lý đối với đội ngũ giảng viên trường chính trị: Ban hành tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên trường chính trị; chuyển từ phương thức quản lý theo bằng cấp sang quản lý theo khung năng lực; xây dựng cơ chế thực tế cơ sở bắt buộc và chính sách thu hút chuyên gia giỏi.
  4. Quản lý theo chuẩn đầu ra đối với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức: Chuyển trọng tâm từ kiểm soát số lượng đầu vào và giờ dạy sang đánh giá năng lực thực thi công vụ của học viên sau khi kết thúc khóa học; đổi mới phương pháp khảo thí và lấy ý kiến của đơn vị sử dụng cán bộ.
  5. Xây dựng và thực hiện các tiêu chí đánh giá chất lượng trường chính trị: Ban hành bộ tiêu chuẩn trường chính trị chuẩn cấp tỉnh với các định lượng rõ ràng về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu khoa học và kết quả đào tạo; tiến hành kiểm định định kỳ.
  6. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động của các trường chính trị: Nâng cao vai trò thanh tra chuyên ngành của Bộ Nội vụ và Sở Nội vụ; phối hợp kiểm tra liên ngành giữa cơ quan Đảng và Nhà nước nhằm bảo đảm kỷ cương quản lý đào tạo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Bổ sung và phát triển cơ sở lý luận về cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức: Xác định rõ khái niệm, đặc điểm, vị trí của cơ sở đào tạo bồi dưỡng công quyền và phân tích tính đặc thù của trường chính trị trong mô hình thể chế chính trị của Việt Nam.
  • Thiết lập khung lý thuyết hoàn chỉnh về quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức: Phân tích sự cần thiết, làm rõ 3 nội dung quản lý (định hướng, hỗ trợ, kiểm soát) và nhận diện các yếu tố thể chế, nhân lực, kinh tế chi phối quá trình này.
  • Hệ thống hóa các bài học kinh nghiệm quốc tế về quản lý cơ sở bồi dưỡng hành chính công để luận giải khả năng tiếp thu có chọn lọc tại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Phản ánh trung thực, toàn diện bức tranh thực trạng tổ chức và hoạt động quản lý tại 63 trường chính trị trên toàn quốc giai đoạn 2008–2018, chỉ ra những vướng mắc pháp lý và bất cập của cơ chế song trùng trực thuộc.
  • Cung cấp hệ thống 4 quan điểm chỉ đạo và 6 nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi, làm luận cứ tham mưu cho việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với các trường chính trị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của công trình:

  • Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở cấp độ trường chính trị cấp tỉnh (63 đơn vị), chưa mở rộng khảo cứu chi tiết đến hệ thống các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện hoặc các học viện chuyên ngành ở trung ương.
  • Trọng tâm luận án giải quyết vấn đề quản lý công và quản lý nhà nước đối với hệ thống trường chính trị, không đi sâu vào chi tiết các kỹ thuật sư phạm nội bộ hay chuyên môn giảng dạy của từng môn học cụ thể.
  • Mốc dữ liệu khảo sát chủ yếu kết thúc ở giai đoạn Quy định số 09-QĐi/TW ngày 13/11/2018 mới được ban hành, do đó chưa có đủ thời gian đánh giá tác động dài hạn của văn bản mới này trên thực tế.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Khảo sát, đánh giá hiệu quả thực tế của việc thực hiện Quy định số 09-QĐi/TW sau một thời gian đi vào cuộc sống tại các địa phương.
  • Nghiên cứu cơ chế kiểm định chất lượng độc lập và quy trình công nhận chuẩn quốc gia đối với các trường chính trị tỉnh, thành phố.
  • Mở rộng phân tích mô hình quản lý liên thông giữa hệ thống trường chính trị cấp tỉnh với các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện sau khi sáp nhập, tổ chức lại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho:

  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh, giảng viên các chuyên ngành Quản lý công, Hành chính công, Quản lý nhà nước, Chính sách công tại các cơ sở đào tạo sau đại học.
  • Cán bộ làm công tác tham mưu chính sách tại Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Ban Tổ chức các tỉnh ủy/thành ủy và Sở Nội vụ các địa phương.
  • Đội ngũ lãnh đạo quản lý và giảng viên các trường chính trị cấp tỉnh trong việc nắm bắt phương thức quản lý theo chuẩn đầu ra, đánh giá tiêu chí trường chuẩn và cải tiến quy trình đào tạo.
  • Các phần có giá trị tham khảo cao gồm: Khung phân tích nội dung quản lý định hướng - hỗ trợ - kiểm soát (Chương 2); Phân tích các xung đột thẩm quyền quản lý giữa cơ quan Đảng và chính quyền (Chương 3); Bộ 6 giải pháp đổi mới phương thức quản trị và tiêu chuẩn hóa trường chính trị (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Tính chất đặc thù của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở Việt Nam được luận án xác định là gì?
Trường chính trị là đơn vị sự nghiệp trực thuộc tỉnh ủy/thành ủy, có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cả cán bộ (chính trị, đoàn thể) và công chức (hành chính nhà nước). Thiết chế này vừa mang tính chất trường Đảng cấp địa phương, vừa thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công đào tạo công vụ do Nhà nước bảo đảm ngân sách.

2. Cơ chế quản lý trường chính trị giai đoạn từ 1994 đến tháng 11/2018 có điểm gì bất cập?
Trong giai đoạn này, trường chính trị chịu cơ chế song trùng trực thuộc: vừa trực thuộc tỉnh ủy/thành ủy, vừa trực thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Điều này dẫn đến sự phân tán trách nhiệm; ủy ban nhân dân tỉnh cấp kinh phí nhưng không trực tiếp điều hành hoạt động, còn quản lý chuyên môn lại do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phụ trách, dẫn đến quản lý nhà nước lỏng lẻo.

3. Ba trụ cột trong nội dung quản lý nhà nước đối với trường chính trị gồm những gì?
Luận án xác lập 3 trụ cột nội dung quản lý gồm: Định hướng (chiến lược, thể chế, kế hoạch); Hỗ trợ (tài chính ngân sách, đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ giảng viên); Kiểm soát (tiêu chuẩn chuẩn đầu ra, thanh tra, kiểm tra, kiểm định chất lượng).

4. Giải pháp về quản lý đội ngũ giảng viên trường chính trị có điểm mới nào?
Luận án đề xuất chuyển đổi phương thức quản lý giảng viên từ chú trọng văn bằng, chứng chỉ sang quản lý theo khung năng lực nghề nghiệp; gắn tiêu chuẩn chức danh với hoạt động nghiên cứu thực tế tại cơ sở và kiểm tra chất lượng giảng dạy định kỳ.

5. Vì sao luận án kiến nghị phải thể chế hóa quy định quản lý trường chính trị bằng văn bản pháp luật?
Trước đây việc quản lý trường chính trị chủ yếu căn cứ vào các văn bản chính trị của Đảng. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi tổ chức và dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước đều phải được điều chỉnh bằng văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm tính pháp lý, tính minh bạch và hiệu lực thanh tra, kiểm tra của cơ quan hành chính.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Viên đã nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với các trường chính trị cấp tỉnh tại Việt Nam. Công trình làm sáng tỏ bản chất đặc thù của trường chính trị, phân tích các hạn chế trong cơ chế quản lý phân tán giai đoạn 2008–2018 và hệ thống hóa bài học kinh nghiệm quốc tế. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất 4 quan điểm chỉ đạo và 6 nhóm giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hệ thống trường chính trị, phục vụ yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong thời kỳ mới.