CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC LÀM VIỆC VÀ NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NHÂN VIÊN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Nhân viên và nhân viên kinh doanh 1.1 Khái niệm chung về nhân viên Nhân viên công ty là người lao động có đủ độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật và có đủ sức khỏe để tham gia vào các quan hệ lao động, ký kết hợp đồng với người sử dụng lao động, được thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Với định nghĩa trên thì nhân viên chính là thuật ngữ biểu thị cho mối quan hệ giữa một công ty, doanh nghiệp với một cá nhân. Và để mối quan hệ này được bền chặt hơn thì sẽ có một giao kèo hay còn gọi là hợp đồng lao động được đặt ra. Bản hợp đồng này sẽ quy định những quyền lợi, trách nhiệm của 2 bên thực hiện việc ký kết, cùng với đó chính là những cam kết thực hiện đúng các điều khoản được nếu trong bản hợp đồng lao động này.
Dựa trên quy định của pháp luật Việt Nam thì những người lao động phải là những người đủ 15 tuổi trở lên và làm việc dựa trên hợp đồng lao động, được trả lương. Đồng thời chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động. Vì thế nhân viên cũng sẽ là những cá nhân từ 15 trở lên và có khả năng lao động dựa trên quy định đã được đề ra.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nhân viên kinh doanh Nhân viên kinh doanh theo Thefreedictionary.com định nghĩa là những người được thuê để bán hàng hóa, dịch vụ của một tổ chức kinh doanh trên một lãnh thổ nhất định”. Trong khi đó, trang Collinsdictionary.com lại định nghĩa “nhân viên kinh doanh là người chịu trách nhiệm tăng trưởng doanh số bán hàng của Công ty”.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu nhân viên kinh doanh là những người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng để giới thiệu, tư vấn, xử lý giao dịch nhằm mục đính chính là bán được sản phẩm, mang lại doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đặc điểm của nhân viên kinh doanh, các công việc cụ thể thông thường bao gồm: - Giới thiệu, tư vấn, thuyết phục khách hàng sử dụng sản phẩm của Công ty; - Tìm kiếm, duy trì và phát triển mạng lưới khách hàng; - Thực hiện công tác chăm sóc khách hàng, tiếp nhận giải quyết các khiếu nại liên quan đến sản phẩm, dịch vụ để đảm bảo độ hài lòng, tin cậy của khách hàng; 22 - Theo dõi, đốc thúc công nợ của khách hàng, đảm bảo các đơn hàng được thanh toán đầy đủ, đúng hạn; - Thực hiện các công việc khác nhau theo sự phân công của cấp quản lý.2 Năng lực làm việc của nhân viên kinh doanh 1.1 Nặng lực làm việc Năng lực là một khái niệm khá trừu tượng, tuy nhiên một cách đơn giản, có thể hiểu: Năng lực là khả năng cần thiết để đạt được các mục tiêu cụ thể. Như vậy, năng lực cũng có thể do bẩm sinh đã có và có thể có được qua trình học tập, lao động, công tác. Trong những năm qua, các nhà ng hiên cứu, các học giả đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực.
Trong đó, định nghĩa về “Năng lực” của 2 nhà nghiên cứu Bernard Wynne và David Stringer là rõ ràng, dễ hiểu và dễ vận dụng trong công tác quản lý và phát triển nguồn nhân lực. Theo Bernard Wynne và David Stringer trong tác phẩm “Tiếp cận Đào tạo và Phát triển dưới góc độ Năng lực” năm 1997 thì “Năng lực bao gồm kỹ năng, kiến thức, hành vi và thái độ tích luỹ được của một cá nhân sử dụng để đạt được các kết quả mà công việc của họ đòi hỏi” (Bernard Wynne and David Stringer, 1997). Nói theo cách khác thì năng lực được thể hiện qua kỹ năng, kiến thức, hành vi và thái độ mà con người tích luỹ được và áp dụng để đạt được kết quả trong công việc của mình. Do đó, năng lực được gắn với kết quả đầu ra của công việc, chứ không phải yếu tố đầu vào.
Như vậy, có thể tóm lược lại các quan điểm về năng lực làm việc là kiến thức, kỹ năng và thái độ mà con người cần có theo yêu cầu công việc và hoàn thành tốt được công việc đó. Ở mỗi một nghề nghiệp khác nhau sẽ có những yêu cầu cụ thể khác nhau về năng lực làm việc. Mạc Văn Trang (2000) cho rằng năng lực làm việc được cấu thành bởi 3 yếu tố: Tri thức chuyên môn, Kỹ năng hành nghề và Thái độ đối với nghề. Năng lực nói chung và năng lực làm việc nói riêng không có sẵn mà nó được hình thành và phát triển qua hoạt động học tập, lao động và trong hoạt động nghề nghiệp.
Chúng ta có thể khẳng định rằng học hỏi và lao động không mệt mỏi là con đường phát triển năng lực làm việc của mỗi cá nhân.2 Năng lực làm việc của nhân viên kinh doanh Kết hợp các nhiệm vụ của nhân viên kinh doanh và các yếu tố cấu thành lên năng lực làm việc ta có thể đưa ra khái niệm năng lực làm việc của nhân viên kinh doanh như sau: “Năng lực làm việc của nhân viên kinh doanh là khả năng ứng dụng các kiến thức, kỹ năng, thái độ mà một người kinh doanh cần phải có, thể hiện sự ổn định, hoàn thành được các nhiệm 23 vụ về công việc kinh doanh một cách tốt nhất và là yếu tố để một nhân viên kinh doanh làm việc hiệu quả hơn với những nhân viên kinh doanh khác”.3 Đánh giá năng lực làm việc của nhân viên kinh doanh 1.1 Mô hình đánh giá năng lực làm việc ASK Nhân lực là một nguồn lực đặc biệt, có vai trò quyết định tới sự thành bại của một tổ chức. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều doanh nghiệp vẫn đang loay hoay với bài toán phát triển nguồn nhân lực và lúng túng trong việc triển khai đánh giá năng lực nhân viên. Muốn phát triển nguồn nhân lực, trước tiên phải đánh giá được năng lực nội tại của nhân viên. Muốn đánh giá năng lực hiệu quả, cần có tiêu chuẩn năng lực và thước đo cụ thể.
Về mặt lý luận có một số mô hình đánh gia năng lực làm việc như: mô hình KSAOs và mô hình KSA. (i) Mô hình KSAOs (hay KSAs) là mô hình để đánh giá năng lực của cá nhân trong mỗi tổ chức. Theo Ngô Quang Thuật (2013), KSAOs bao gồm các yếu tố: Kiến thức, kỹ năng, khả năng và các đặc tính khác nhau mà các ứng viên/ nhân viên phải có để thực hiện thành công một nhiệm vụ hay một việc. Trong đó: - Kiến thức: bao gồm các kiến thức cần thiết để thực hiện một hay nhiều nhiệm vụ.
Phần kiến thức có thể thể hiện dưới hai dạng: bằng cấp và các khóa đào tạo hoặc cụ thể hơn là danh sách các kiến thức chi tiết cần phải có. - Kỹ năng: được hiểu là danh sách các kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc. Kỹ năng gồm: kỹ năng cứng, kỹ năng mềm, kỹ năng quản lý, kỹ năng lãnh đạo…Kỹ năng được hình thành khi chúng ta học hỏi, đào tạo sau đó là thuần thục (thực hành) một loại công việc nhất định: thể hiện mức độ thuần thục của một hoặc nhiều thao tác. - Khả năng: là khả năng vốn có của một con người để thực hiện công việc - Các yếu tố khác: bao gồm phẩm chất cá nhân, tích cách, sở thích… (ii) Mô hình ASK, được sử dụng rất phổ biến trong quá trình quản trị nhân sự nhằm đào tạo và phát triển năng lực cá nhân.
Trong đó ba nhóm năng lực chính cấu thành nên mô hình ASK là: - Thái độ hay phẩm chất của người lao động. - Kỹ năng năng của người lao động trong quá trình thao tác làm việc. - Kiến thức của người lao động được tích lũy trong quá trình học hỏi, giáo dục và đào tạo. Và để biết nhân viên thiếu, đủ năng lực thế nào, cần bổ sung và phát trienr ra sao, cũng lại cần tiêu chuẩn năng lực; và vậy tiêu chuẩn năng lực là gì và xây dựng nó thế nào? Benjamin 24 Bloom (1956) đã đề xuất mô hình ASK nhằm giải quyết vấn đề này và sau đó Shubha Rajan (2012) đã tiếp tục phát triển.2 Mô hình ASK đánh giá năng lực của nhân viên (Nguồn Benjamin Bloom 1956 và Shubha Rajan 2012) Theo mô hình ASK cũng như quan điểm của Shubha Rajan (2012) thì kiến thức chỉ chiếm 15% sự thành công, còn lại các kỹ năng và thái độ có tầm quan trọng chiếm 85%.
Một người có năng lực làm việc tốt thì cần phải có sự tổng hợp đầy đủ của cả ba yếu tố ASK. Do tính chất khá phổ biến của mô hình ASK trong nghiên cứu năng lực làm việc nên tác giả sẽ lựa chọn mô hình ASK và cách thức vận dụng mô hình trong các phần tiếp theo của đề tài. Các yếu tố thành phần của mô hình ASK. Như đã giới thiệu ở trên, mô hình ASK được cáu thành bởi ba yếu tố là: - Thái độ (Attitude).
Thái độ: thường được bao gồm các nhân tố thuộc về thế giới quan tiếp nhận và phản ứng lại các thực tế, xác định giá trị, giá trị ưu tiên. Các phẩm chất và hành vi thể hiện thái độ của cá nhân với công việc, động cơ, cũng như những tố chất cần có để đảm nhận tốt công việc. Các phẩm chất cũng được xác định phù hợp với vị trí công việc. Kỹ năng: được hiểu là khả năng thực hiện các công việc cụ thể, biến kiến thức thành hành động.
Kỹ năng có thể được phân loại thành nhiều dạng, tùy vào mục đích phân loại. Thông thường có thể phân kỹ năng thành ba loại chủ yếu là: kỹ năng sống, kỹ năng chuyên môn và kỹ năng làm việc. Nếu đi sâu về chuyên môn thì có các loại kỹ năng như: kỹ năng cứng, kỹ năng mềm và kỹ năng hỗn hợp. Kỹ năng cứng là những kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng chuyên môn, giúp người lao động thực hiện những công việc cụ thể theo những tiêu chuẩn nhất định.
Kỹ năng mềm bao gồm các kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng đàm phán…Kỹ năng mềm phụ thuộc rất nhiều vào đối tượng tương tác và vì thế khó có thể quy chuẩn. Trong hai kỹ năng trên thì kỹ năng mềm đóng vai trò lớn hơn trong sự thành công của một người. Theo như Dniel Goleman thì kỹ năng cứng chỉ chiếm 15%, trong khi kỹ năng mềm chiếm 85% khả năng thành đạt của mỗi con người. Vì vậy muốn thành công thì người nhân viên cần phải kết hợp cả hai loại kỹ năng này.