CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU CHÉO ĐẾN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. SỞ HỮU CHÉO 1. Khái niệm sở hữu chéo Sở hữu chéo là một hiện tượng phổ biến ở nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới như Nhật Bản, Đức, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonesia và một số quốc gia khác. Tuy nhiên, ở Việt Nam, SHC nói chung và SHC trong hệ thống ngân hàng nói riêng trở thành hiện tượng đáng chú ý trong khoảng từ năm 2006 trở lại đây.
SHC là việc một hoặc một nhóm công ty tham gia sở hữu một hoặc một nhóm công ty khác thông qua việc nắm giữ các chứng khoán vốn của nhau để có ảnh hưởng quyết định hoặc khả năng kiểm soát đối với nhau. SHC không những thể hiện dưới hành động nắm giữ cổ phần của đối tác mà còn được thể hiện thông qua việc có những ảnh hưởng đến những quyết định quan trọng trong hoạt động và quản lý công ty cũng như có khả năng kiểm soát đối với công ty đó. Như vậy có nghĩa là việc sở hữu còn được hiểu theo nghĩa định tính (mức độ ảnh hưởng) hơn là định lượng (số lượng cổ phần nắm giữ) như từ trước đến giờ chúng ta vẫn nhầm tưởng. Đây cũng là một trong những giới hạn trong các quy định của cơ quan chức năng về việc trình bày và công bố thông tin của các bên liên quan trên báo cáo tài chính.
Hay có thể hiểu đơn giản, SHC là việc các tổ chức nắm giữ cổ phần lẫn nhau (Ogishima and Kobayashi, 2002). Chẳng hạn như công ty A đầu tư vào công ty B và công ty B cũng đầu tư ngược lại vào công ty A. SHC khác với mở rộng sở hữu, là việc cho phép nhiều đối tượng, nhiều thành phần kinh tế cùng nắm giữ vốn của một đơn vị. Theo Junning Cai và Jiameng (2008) thì mối liên kết chéo giữa các công ty thường được đo bằng tỷ lệ “nắm giữ cổ phần chéo” được định nghĩa là giá trị nắm giữ cổ phiếu của công ty này so với tổng cổ phần của công ty kia.
Công thức này giúp xác 2 định mức độ SHC của công ty nhưng chưa phản ánh được sự phức tạp của mạng lưới SHC. Hình thức tồn tại của sở hữu chéo 1. Theo hình thức sở hữu Sở hữu chéo có thể tồn tại dưới hình thức đầu tư trực tiếp (SHC trực tiếp hay còn gọi là SHC song phương) hoặc đầu tư gián tiếp (SHC gián tiếp hay còn gọi là SHC đa phương). Sở hữu chéo song phương là việc công ty A sở hữu trực tiếp công ty B và ngược lại, công ty B cũng sở hữu công ty A.
Hình thức này được mô tả như hình 1.1: Sở hữu chéo song phương Công ty A Công ty B Nguồn: Guo Li và Yakura Shinsuke, 2010 Sở hữu chéo đa phương là hình thức công ty A sở hữu công ty B, công ty B đầu tư vào công ty C và cuối cùng C mua cổ phần của A.2: Sở hữu chéo đa phương Công ty A Công ty B Công ty C Nguồn: Guo Li và Yakura Shinsuke, 2010 1. Theo cấu trúc đầu tư Theo Guo Li và Yakura Shinsuke (2010) thì SHC có thể chia làm hai loại là SHC cổ phần các công ty trong cùng một tập đoàn (SHC theo chiều dọc) và SHC cổ phần phản ánh các mối quan hệ kinh doanh bên ngoài một tập đoàn, chẳng hạn như giữa các nhà cung cấp và khách hàng (SHC theo chiều ngang). Với hai loại hình nhưng SHC có thể tồn tại dưới các cấu trúc khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp. Sở hữu chéo giản đơn Đây là hình thức SHC đơn giản nhất, công ty A mua cổ phần công ty B và ngược lại, công ty B cũng nắm giữ cổ phần của công ty A (Hình 1.
Sở hữu chéo đường thẳng Trong hình thức này, các bên tham gia sở hữu một hoặc nhiều công ty khác dưới hình thức trực tiếp. Chẳng hạn như công ty B đầu tư trực tiếp vào công ty A và ngược lại, công ty B lại đầu tư trực tiếp vào công ty C, nhưng A và C không có quan hệ đầu tư trực tiếp với nhau.3: Sở hữu chéo đường thẳng Công ty A Công ty B Công ty C Công ty D Nguồn: Guo Li và Yakura Shinsuke, 2010 c. Sở hữu chéo vòng tròn Các mối liên kết sở hữu tạo thành một thành vòng khép kín, trong đó các công ty sở hữu lẫn nhau. Tuy nhiên, hình thức sở hữu mới chỉ dừng lại ở cấp độ trực tiếp.4: Sở hữu chéo vòng tròn Công ty A Công ty B Công ty D Công ty C Nguồn: Guo Li và Yakura Shinsuke, 2010 d.
Sở hữu chéo mạng lưới Các công ty đã hình thành các mối quan hệ sở hữu trực tiếp và gián tiếp lẫn nhau tạo thành một mạng lưới SHC. Dưới cấu trúc này, SHC đã trở nên phức tạp và khó xác định được tỷ lệ sở hữu thực tế của các công ty.5: Sở hữu chéo mạng lưới Công ty A Công ty B Công ty D Công ty C Nguồn: Guo Li và Yakura Shinsuke, 2010 Có thể thấy, các công ty trên mạng lưới SHC đều có cổ phần của các công ty khác dưới hình thức trực tiếp hay gián tiếp. Ví dụ công ty A đầu tư trực tiếp vào công ty B, C, D; ngoài ra công ty A còn sở hữu gián tiếp công ty C thông qua công ty B. Sở hữu chéo mạng không gian SHC theo hình thức mạng không gian cho thấy kết cấu chính - phụ trong mối liên kết giữa các công ty.
Có thể thấy, các công ty B, C, D nắm giữ cổ phần công ty A và công ty A cũng đầu tư vào các công ty B, C và D. Tuy nhiên, các công ty B, C và D không có mối quan hệ sở hữu với nhau.6: Sở hữu chéo mạng không gian Công ty B Công ty A Công ty C Công ty D Nguồn: Guo Li và Yakura Shinsuke, 2010 f. Sở hữu chéo dạng phức tạp Đây là cấp độ phức tạp nhất trong các hình thức SHC. Các công ty liên quan gắn kết chặt chẽ với nhau thông qua việc sở hữu lẫn nhau và cùng sở hữu một công ty khác tạo nên mạng lưới hoạt động kinh doanh rộng lớn đan xen nhiều lĩnh vực khác nhau.7: Sở hữu chéo dạng phức tạp Công ty B Công ty A Công ty C Công ty D Nguồn: Guo Li và Yakura Shinsuke, 2010 Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt với đặc thù là hoạt động kinh doanh tiền tệ.
Tuy nhiên, về mặt cơ cấu sở hữu thì NH cũng có những đặc điểm tương đồng với DN. Vì vậy, SHC trong ngân hàng cũng tồn tại dưới các hình thức từ đơn giản đến phức tạp như trong các DN. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả nghiên cứu mối quan hệ SHC giữa ngân hàng – ngân hàng, giữa doanh nghiệp (DN) – ngân hàng và giữa cá nhân – ngân hàng. Đây vừa là mối quan hệ SHC trực tiếp vừa là SHC gián tiếp.
MỐI QUAN HỆ GIỮA SỞ HỮU CHÉO VÀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Có thể nói, mối quan hệ giữa SHC và hệ thống NHTM là mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Mặc dù, về cơ bản, SHC có tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh NH, tuy nhiên, bên cạnh mỗi nhân tố tích cực đó luôn tiềm ẩn rủi ro. Yếu tố tích cực chỉ phát huy tác dụng khi mà hoạt động NH dưới cơ chế SHC tuân thủ những quy định pháp luật nhất định. Nếu không được kiểm soát chặt chẽ, tác động tiêu cực thường lấn át các tác động tích cực vốn có.
Có thể thấy điều này phụ thuộc rất nhiều vào nhân tố con người - yếu tố mang tính chủ quan. Tác động của sở hữu chéo đến hệ thống ngân hàng thương mại 1.Tác động tích cực 6 Không phải tất cả các hình thức SHC đều đáng lo ngại, mà trái lại SHC luôn có những tác động tích cực nhất định đến sự lành mạnh của hệ thống NHTM và các DN trong hệ thống SHC. Thứ nhất, SHC giúp ổn định cơ cấu sở hữu và quản trị trong NHTM. Sở hữu chéo giữa NH với NH và giữa NH với các DN giúp ổn định cơ cấu sở hữu trong NHTM và DN với sự cam kết dài hạn của các chủ sở hữu.
Việc ổn định cơ cấu sở hữu giúp ban quản trị điều hành NH yên tâm để thực hiện các chiến lược phát triển NH, mà không phải lo lắng bởi các bất đồng giữa các nhóm cổ đông trong NHTM. Việc góp vốn đầu tư vào NHTM hay DN thường đi kèm với việc cử đại diện trong hội đồng quản trị (HĐQT), hay ban giám đốc điều hành của NHTM hay DN đó để có ảnh hưởng đến các quyết định quản trị. Hơn nữa, SHC gia tăng càng làm tăng sự lồng ghép của cơ cấu quản trị NH này vào NH khác. Với sự tham gia của các lãnh đạo có uy tín và kinh nghiệm của NH này vào ban điều hành hay ban kiểm soát của các NH khác, ở một mức độ nhất định, sẽ nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động của NHTM.
Thêm nữa, sự tham gia của các cổ đông chiến lược, mang tính độc lập sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản trị điều hành (corporate governance). Một cơ chế quản trị điều hành tốt là vô cùng quan trọng để đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh của NHTM. Thứ hai, SHC giúp nâng cao tiềm lực về vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý của NHTM. SHC thiết lập mối dây liên kết bền vững giữa các chủ thể sở hữu.
Với sự liên kết giữa các NH thông qua hình thức sở hữu, các NHTM thường nhận được sự hỗ trợ lẫn nhau về vốn, công nghệ và nhất là kinh nghiệm quản lý, quản trị tài chính, rủi ro. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các NHTM có quy mô nhỏ trong việc tạo nguồn tài trợ ổn định nhằm nâng cao tiềm lực về vốn, năng lực quản trị để nâng cao hiệu quả kinh 7 doanh và có thể cạnh tranh được với các NH có quy mô lớn hơn. Từ đó, năng lực hoạt động của hệ thống tài chính ngân hàng nhìn chung sẽ được gia tăng. Khả năng chống đỡ với các cú sốc kinh tế, vì vậy, sẽ được nâng cao khi năng lực quản trị rủi ro của các NH được cải thiện.