MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết đề tài Lao động là nhân tố quan trọng không thể thiếu được trong bất kỳ hoạt động nào có liên quan đến quá trình sản xuất kinh doanh. Cho dù ngày nay, ngành công nghệ tự động đã có những thành tựu vượt bậc, máy móc đã dần thay thế cho vai trò của con người để tham gia vào một số lĩnh vực, nhưng không thể thay thế hoàn toàn lao động của con người, nhất là những ngành có thâm dụng lao động cao. Để tham gia vào quá trình lao động, NSDLĐ và NLĐ phải thiết lập mối quan hệ bằng HĐLĐ, làm cơ sở pháp lý để các bên tuân thủ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận đã được ký kết.
Đối tượng của HĐLĐ chính là hàng hóa sức lao động - một loại hàng hóa đặc thù mà khi bán, NLĐ vẫn không mất đi quyền sở hữu đối với hàng hóa của mình. Do vậy, các nội dung của HĐLĐ ngoài việc đáp ứng yêu cầu của NSDLĐ trong quá trình sản xuất - kinh doanh, cung ứng dịch vụ để tạo ra sản phẩm cho đơn vị thì cũng phải phù hợp với các điều kiện làm việc của NLĐ, đảm bảo khả năng tái tạo hàng hóa sức lao động. Quan hệ pháp luật HĐLĐ thể hiện tính bất cân xứng về quyền lực, khi NSDLĐ là “người chủ” trong quá trình khai thác sức lao động của NLĐ sao cho phù hợp nhất theo ý chí của mình, nhằm góp phần tối đa hóa lợi nhuận. Do vậy, Nhà nước với sứ mạng lịch sử của mình phải tạo ra khung pháp lý cần thiết để điều chỉnh quan hệ xã hội này, nhằm tạo trật tự ổn định để phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia quan hệ pháp luật HĐLĐ.
Trong thời gian qua, nhằm phù hợp với quan hệ xã hội đang diễn ra cần thiết phải điều chỉnh, trong đó có quan hệ lao động, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã ban hành Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung qua các năm: 2002, 2006, 2007). Gần đây nhất là Bộ luật Lao động năm 2012, có hiệu lực thi hành vào ngày 01/5/2013 cùng với Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành vào ngày 01/7/2016 đã được Quốc hội ban hành, là khung pháp lý cả về nội dung và hình thức cho các bên trong quan hệ pháp luật HĐLĐ và cơ quan Nhà 1 nước có thẩm quyền tuân theo trong quá trình quản lý, giải quyết tranh chấp HĐLĐ. Tuy nhiên, sau thời gian tổ chức thực hiện đã bộc lộ một số bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật. Thành phố Hồ Chí Minh là đầu tàu kinh tế của cả nước, thời gian qua sự phát triển nhanh chóng các loại hình doanh nghiệp với nhiều hình thức sở hữu khác nhau đã làm cho quan hệ lao động ngày càng đa dạng, phong phú, song cũng phát sinh nhiều vấn đề mới, trong đó có những vấn đề không kém phần phức tạp.
Theo đó, tranh chấp lao động cá nhân nói chung, tranh chấp về hợp đồng lao động nói riêng tại Tòa án nhân dân chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cả nước. Trên cơ sở đó, tác giả chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp hợp đồng lao động từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn Thạc sĩ của mình, nhằm nghiên cứu và góp phần hoàn thiện vào chế định pháp luật nói trên. Tình hình nghiên cứu Liên quan đến chế định pháp luật HĐLĐ và giải quyết tranh chấp HĐLĐ được sự quan tâm của giới nghiên cứu khoa học pháp lý và những người làm công tác thực tiễn. Có một số công trình khoa học đã được công bố liên quan đến lĩnh vực này như: Thứ nhất, về lĩnh vực có liên quan đến hợp đồng lao động: - Bài viết: Mấy ý kiến về hợp đồng lao động vô hiệu của tác giả Đào Thị Hằng, năm 1999 được đăng trên Tạp chí Luật học số 5.
- Bài viết: “Hợp đồng lao động và tình hình thực hiện tại các doanh nghiệp” của tác giả Đặng Kim Chung, năm 2000 được đăng trên Tạp chí Lao động và Xã hội số 161; - Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Hữu Chí: “Hợp đồng lao động trong cơ chế thị trường ở Việt Nam” năm 2002; - Bài viết: “Mấy ý kiến xung quanh việc thụ lý, giải quyết tranh chấp lao động có liên quan tới hợp đồng lao động” của tác giả Lưu Bình Nhưỡng, năm 2004 được đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 6. 2 - Luận văn Thạc sĩ của Trần Thị Lượng: “Pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động qua thực tiễn ở các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, năm 2006; - Bài viết: “Pháp luật về hợp đồng lao động với việc bảo vệ quyền lợi người lao động” của tác giả Phạm Thị Hồng Đào, đăng trên Tạp chí Dân chủ Pháp luật điện tử năm 2016 tại địa chỉ: http://moj.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao- doi. Thứ hai, về lĩnh vực có liên quan đến giải quyết tranh chấp hợp đồng lao động: - Bài viết: “Những điểm mới về tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2006” của tác giả Nguyễn Xuân Thu được đăng trên Tạp chí Luật học số 07, năm 2007; - Luận án Tiến sĩ: “Pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án ở Việt Nam” của tác giả Phạm Công Bảy, năm 2011; - Luận văn Thạc sĩ: “Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo pháp luật Việt Nam” của Nguyễn Thị Kim Anh, năm 2014; - Luận văn Thạc sĩ: “Pháp luật về ký kết, thực hiện, chấm dứt hợp đồng lao động qua thực tiễn tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” của Trịnh Thị Thủy, năm 2014; - Luận văn Thạc sĩ: “Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân qua thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân tại Thành phố Chí Minh” của Nguyễn Năng Quang, năm 2014; - Bài viết: “Bình luận các quy định về giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015” của PGS. Nguyễn Hữu Chí được đăng trên Tạp chí Luật học số 12, năm 2015.
Những công trình khoa học có liên quan kể trên là nguồn tài liệu vô cùng quý báu để tác giả kế thừa hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về giải quyết tranh chấp hợp đồng lao động tại TAND ở Thành phố Hồ Chí Minh kể từ thời điểm Bộ luật Lao động năm 2012 có hiệu lực. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật có liên quan đến HĐLĐ và giải quyết tranh chấp HĐLĐ qua thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân tại thành phố Hồ Chí Minh bằng cách phân tích kết quả xét xử một số vụ án, đối chiếu với quy định pháp luật để đưa ra nhận xét việc áp dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nhiệm vụ của luận văn là phân tích các quy định có liên quan đến chế định pháp luật về HĐLĐ, cũng như trình tự, thủ tục, thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐLĐ qua công tác xét xử.
Từ đó, phát hiện ra những bất cập về pháp luật nội dung, hình thức, hoạt động áp dụng pháp luật, đưa ra kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật có liên quan, cũng như công tác tổ chức thực hiện pháp luật. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy phạm pháp luật có liên quan đến chế định pháp luật về HĐLĐ; giải quyết tranh chấp HĐLĐ từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại thành phố Hồ Chí Minh thông qua việc nghiên cứu một số bản án cụ thể. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: (i) Nghiên cứu những vấn đề lý luận về HĐLĐ, giải quyết tranh chấp HĐLĐ; những nguyên tắc giải quyết tranh chấp HĐLĐ; Quy định pháp luật về HĐLĐ, giải quyết tranh chấp HĐLĐ; (ii) Thực tiễn việc áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp HĐLĐ thông qua hoạt động xét xử của TAND; (iii) Luận giải và đưa ra kiến nghị về hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp HĐLĐ tại TAND.
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu trên phạm vi thành phố Hồ Chí Minh. - Về thời gian: Kể từ khi BLLĐ năm 2012 có hiệu lực thi hành (kể từ ngày 01/5/2013) đến nay. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như quan điểm của Đảng Cộng 4 sản Việt Nam về hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp lao động, trong đó có tranh chấp HĐLĐ. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống như: lịch sử, phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh, đối chiếu; khảo sát, thống kê; phương pháp chuyên gia, phương pháp tình huống để đạt được yêu cầu đặt ra.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Thứ nhất, Luận văn làm sâu sắc thêm những nội dung có tính khái quát chung về HĐLĐ và giải quyết tranh chấp lao động của TAND, cụ thể là tại thành phố Hồ Chí Minh. Thứ hai, Trên cơ sở nghiên cứu nêu trên, luận văn đã đưa ra một số bất cập trong các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐLĐ. Thứ ba, Luận văn đã đề ra phương hướng nhằm hoàn thiện pháp luật nội dung, hình thức cũng như giải pháp tổ chức thực hiện có liên quan đến giải quyết tranh chấp HĐLĐ qua thực tiễn xét xử tại thành phố Hồ Chí Minh. Qua đó, luận văn góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về HĐLĐ, giải quyết tranh chấp HĐLĐ, nâng cao hoạt động của các tổ chức hữu quan nhằm xây dựng hài hòa quan hệ lao động, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ pháp luật về HĐLĐ.