Chương IT: Thực trạng pháp luật về lao động chưa thành niên ở Việt Nam hiện nay. Chương IIT: Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về lao động chưa thành niên. NỘI DUNG CHUONG I MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE LAO DONG CHƯA THÀNH NIÊN VA PHAP LUAT VE LAO DONG CHUA THANH NIEN 1.1 QUAN NIEM, ĐẶC DIEM CUA LAO ĐỘNG CHUA THÀNH NIÊN 1.1 Quan niệm lao động chưa thành niên Chủ tịch Hồ Chi Minh đã từng nói “/ao động là vinh quang”, lao động là hành vi bản thân bằng khả năng của mình, tạo ra tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt để phục vụ cuộc sống của bản thân. Lao động luôn gắn liền với sự hình thành và phát triển của của con người, con người có cuộc sống như ngày nay là nhờ lao động.
Lao động là quá trình kéo dai và theo suốt cuộc đời của mỗi con người, nhưng ở mỗi độ tuổi khác nhau lao động lại mang tinh chất khác nhau. Điều này xuất phát từ đặc điểm về thé chat, tinh than của người lao động ở các giai đoạn trong các độ tuổi khác nhau. Độ tuổi luôn được pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của các quốc gia sử dụng là cơ sở để xác định về người chưa thành niên trên cơ sở đó xác định những loại hình lao động phù hợp cho từng nhóm lao động. Nhìn chung pháp luật quốc tế thường lấy độ tuổi 18 tuổi là ranh giới để xác định lao động thành niên và lao động chưa thành niên.
Ví dụ trong bản quy ước của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước đoạt tự do (14/12/1990) quy định: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, tại một số văn bản pháp luật khác khái niệm người chưa thành niên có thê trùng với khái niệm trẻ em, ví dụ tại điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyên trẻ em (20/11/1989) quy định: “Trẻ em nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ khi pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Như vậy, ta cũng có thê hiểu theo quy định của liên hợp quốc người chưa đủ 18 tuổi đều là trẻ em. Điều nay cho thấy, trong những lĩnh vực hoàn cảnh nhât định, khái niệm “ nguwoi chưa thành niên ” và “trẻ em” có thê thông nhât vê mặt nội hàm va được pháp luật quôc tê cũng như quôc gia sử dụng.
Tuy nhiên việc quy định khái niệm “#gười chưa thành niên ` va “trẻ em” về tuôi thành niên là quy định mang tính chất mở, các quốc gia có thé quy định tudi thành niên sớm hơn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia đó và tình trạng phát triển, thể chất của người công dân mỗi nước. Quy định của Liên hợp quốc chỉ quy định mức tuổi tối đa, do đó các quy định về độ tuổi của trẻ em đưới khung này vẫn được các tô chức khác quy định và thừa nhận. Trong 200 công ước của tổ chức lao động quốc tế (viếr tat là ILO) về lao động, có 30 công ước đề cập đến vấn đề lao động trẻ em. Trong đó, Công ước quy định bao quát và cụ thé về nhóm đối tượng này phải kế đến Công ước 138 về độ tuổi lao động tối thiểu (1973) và Công ước 182 về cắm và hành động ngay lập tức xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tôi tệ nhất (1999).
Trong hai công ước này đối tượng điều chỉnh đều là người dưới 18 tuổi, tại Điều 2 Công ước 182 trẻ em cũng được quy định là người dưới 18 tuổi. Công ước 138 chia nhóm lao động dưới 18 tuổi thành các nhóm nhỏ hơn (nhóm từ 13 đến dưới 15 tuổi, nhóm từ 15 đến dưới 18 tuổi). Không phải tất cả lao động mà trẻ em tham gia đều là lao động trẻ em cần bị loại bỏ. Trẻ em hoặc thanh thiếu niên tham gia trong công việc mà không ảnh hưởng đến sức khỏe của họ và phát triển cá nhân hoặc cản trở việc học của họ, thường được coi như là lao động mang ý nghĩa tích cực.
Điều này bao gồm các hoạt động như giúp đỡ cha mẹ, hỗ trợ trong trường hợp gia đình kinh doanh. Các loại hoạt động này góp phần phát triển của trẻ em và phúc lợi gia đình của họ, cung cấp cho họ những kỹ năng và kinh nghiệm, đồng thời giúp đỡ và chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống khi trưởng thành. Còn khái niệm "Jao động trẻ em bi loại bo” được xác định là công việc mà công việc đó tước di của trẻ em thời thơ âu, tiềm năng và phẩm giá, vì vậy mà nó có hại cho sự phát triển thé chất, tinh thần của trẻ em. Có nhiều nước khi thông qua và nội luật hóa công ước của ILO đã quy định và quan niệm người lao động dưới 18 tuổi là Lao động trẻ em giống như hai công ước trên như pháp luật Vương Quốc Anh, Malaixia'.Nhưng phan lớn các quốc gia khác lại dùng thuật ngữ lao động chưa thành niên dé chỉ lao động dưới ' Trần Thắng Lợi; Luận án tiến sĩ: Hoàn thiện pháp luật về lao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc tế; Hà Nội 2012 18 tuổi như Campuchia, Achentina,Pháp.
Tuy nhiên, ngay kể cả những nước này, việc xác định lao động chưa thành niên cũng không hoàn toàn giống nhau. Ở một số quốc gia như Slovakia xác định tat cả lao động dưới 18 tuổi đều là lao động chưa thành niên, không phân tách giữa lao động chưa thành niên và lao động trẻ em. Điều đó có nghĩa ở nhóm các nước này không quy định độ tuổi tối thiểu mà chỉ quy định độ tuôi tối đa của lao động chưa thành niên theo quy định của Công ước quốc tế. Cách quy định này nhìn về hình thức sẽ tạo được một thé thống nhất trong cách gọi đối với nhóm lao động dưới 18 tuổi.
Song nếu muốn thực hiện những yêu cầu đề ra trong công ước quốc tế thì bên trong nhóm lao động này nên chia nhỏ hơn các nhóm đối tượng để có những biện pháp bảo vệ tốt hơn. Ở một số nước, lại có sự phân chia giữa lao động chưa thành niên và lao động trẻ em. Lao động chưa thành niên theo quan niệm của nhóm nước nay thường được quy định từ khoảng 15 tudi (hoặc 14 tuổi) đến 18 tuổi, những lao động dưới 15 tuôi là lao động trẻ em. Ví dụ như Luật nhân lực của Indonesia 2003 quy định: “Lao động chưa thành niên là lao động dưới 18 tuổi nhưng trên 14 tuổi, lao động trẻ em là 14 tuổi và dưới 14 tuổi”.
Trong giới hạn tuôi của lao động chưa thành niên thì giới hạn tôi đa luôn là dưới 18 nhưng giới hạn tuôi tôi thiểu có thể khác nhau tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia. Chăng hạn như Luật lao động Trung Quốc 1994 quy định “Lao động chưa thành niên là người du 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” còn pháp luật lao động của CHLB Duc 1971 quy định: “Lao động chưa thành niên là người làm thuê 14 tuổi hoặc người làm thuê từ 14 tuổi đến 18 tuổi”( Điều 2). Theo quy định tại điều 18 BLDS Việt Nam 2005: “.Người chưa di 18 tuổi là người chưa thành niên”. Như vậy theo quy định của pháp luật Việt Nam người chưa thành niên được xác định là người chưa đủ 18 tuổi.
Tudi 18 được coi là ranh giới để xác định một người đã thành niên và chưa thành niên. Ở độ tudi này về cơ bản con người có thê đạt tới sự phát triên toàn diện vê tâm sinh lý va ? Bộ lao động thương binh xã hội, vụ pháp chế; Tài liệu tham khảo pháp luật nước ngoài; NXB Lao động- Xã hội , Hà Nội 2012 3 Bộ lao động thương binh xã hội, vụ pháp chế; Tài liệu tham khảo pháp luật nước ngoài; NXB Lao động- Xã hội , Hà Nội 2012 được coi là người trưởng thành). Bên cạnh quy định về người chưa thành niên, pháp luật Việt Nam cũng quy định “tré em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” (Diéu 1, luật bảo vệ chăm sóc và giáo đục trẻ em) như vậy, ta có thê hiểu người chưa thành niên theo pháp luật Việt Nam bao gồm cả trẻ em và người từ trên 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Người chưa thành niên cũng như tất cả công dân Việt Nam có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp và nơi làm việc (Điều 35 Hiến pháp 2013).
Tuy nhiên để trở thành chủ thể trong quan hệ lao động với tư cách người lao động, cá nhân phải thỏa mãn những điều kiện nhất định do pháp luật quy định. Một người chưa thành niên trở thành LĐCTN trước hết người chưa thành niên phải là người lao động và mang day đủ đặc điểm của NLD theo quy định tại khoản 1 Điều 3 BLLD 2012 : “. Có khả năng lao động, làm việc theo hợp dong lao động, được trả công và chịu sự quản by, điều hành của NSDLĐ”. Như vậy, NLD nói chung và LDCTN nói riêng phải có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động.
Cụ thể, bằng hành vi của ban thân, LDCTN tham gia trực tiếp vào quan hệ lao động, tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động theo hợp đồng lao động. Chủ thể trong quan hệ hợp đồng phải là NSDLĐ và NLĐ, hai bên khi giao kết hợp đồng phải tuân theo những quy định về hình thức, nội dung hợp đồng để đảm bảo hợp đồng có hiệu lực. Khi tham gia quan hệ lao động, trong thời gian lao động, LDCTN phải dat mình dưới sự điều hành, quản lý của NSDLĐ và được hưởng tiền công theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Trong pháp luật lao động Việt Nam su dụng khái niệm LDCTN, cu thể như sau: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”( Điều 161 BLLD 2012).
Định nghĩa này cơ bản đã đưa ra mức tudi dé xác định lao động chưa thành niên, đây là những đặc tinh, cơ sở mang tính pháp lý dé nhận biết lao động chưa thành niên với NLD khác. Từ những đặc điểm về NLD và định nghĩa LDCTN, ta có thé đưa ra khái niệm người lao động chưa thành niên như sau: “Lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi, có khả năng lao động, làm việc theo hợp dong lao động, được trả lương và chịu sự quản lý điều hành của người sử dung lao động ””.