Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "So sánh pháp luật về hợp đồng lao động Việt Nam và Hàn Quốc" do nghiên cứu sinh Park Jae Myung thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp) năm 2019, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lưu Bình Nhưỡng và PGS. Trần Thị Thúy Lâm. Luận án thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số 9380107.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án chỉ ra rằng tại Việt Nam, Bộ luật Lao động (BLLĐ) ban hành năm 1994 đã qua 3 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006, 2007; trong đó chương Hợp đồng lao động (HĐLĐ) có sự thay đổi lớn nhất (sửa đổi 8/17 điều). Năm 2012, Việt Nam ban hành BLLĐ sửa đổi lần thứ tư và tiếp tục chuẩn bị sửa đổi giai đoạn 2019–2020. Dù đã tiếp thu nhiều tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), pháp luật HĐLĐ Việt Nam vẫn tồn tại nhiều bất cập: quy định chung chung, thiếu nhất quán giữa các văn bản; vướng mắc trong phân loại HĐLĐ, căn cứ và thủ tục chấm dứt hợp đồng, chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, thử việc; thiếu quy định chi tiết về các hình thức mới như cho thuê lại lao động hay làm việc bán thời gian. Trong thực tiễn, việc giao kết HĐLĐ mang nặng tính chất "gia nhập" do người sử dụng lao động (NSDLĐ) soạn sẵn, tình trạng "lách luật" và sa thải trái pháp luật diễn ra phổ biến.

Tại Hàn Quốc, Luật Tiêu chuẩn Lao động (LTCLĐ) ban hành từ năm 1953 đã được sửa đổi liên tục. Tuy nhiên, LTCLĐ Hàn Quốc chỉ áp dụng đối với người sử dụng lao động có từ 5 người lao động (NLĐ) trở lên; các đơn vị dưới 5 lao động hoặc sử dụng lao động gia đình không thuộc phạm vi điều chỉnh. Sự phát triển dòng vốn đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Hàn Quốc vào Việt Nam và sự gia tăng số lượng lao động Việt Nam sang làm việc tại Hàn Quốc đã làm phát sinh nhiều xung đột pháp lý. Doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam thường xuyên là điểm nóng về tranh chấp lao động tập thể do bất đồng trong áp dụng pháp luật; ngược lại, nhiều NLĐ Việt Nam tại Hàn Quốc vi phạm pháp luật sở tại do thiếu hiểu biết về chế định HĐLĐ. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: cho đến thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu ở cấp độ luận án tiến sĩ nhằm so sánh pháp luật HĐLĐ giữa Việt Nam và Hàn Quốc để chỉ ra các điểm tương đồng, dị biệt và cơ sở luận giải.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về HĐLĐ và pháp luật HĐLĐ, đánh giá thực trạng pháp luật của Việt Nam và Hàn Quốc, tìm ra điểm tương đồng và khác biệt cùng nguyên nhân, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật HĐLĐ của hai quốc gia. Để thực hiện mục đích này, luận án giải quyết 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích, làm sáng tỏ và hoàn thiện các vấn đề lý luận về HĐLĐ và pháp luật HĐLĐ (khái niệm, bản chất, đặc điểm, vai trò của HĐLĐ; khái niệm và nội dung điều chỉnh của pháp luật HĐLĐ).
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật HĐLĐ của Việt Nam và Hàn Quốc; chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế, các điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật, đồng thời luận giải cơ sở của sự tương đồng và khác biệt này.
  3. Phân tích và đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật HĐLĐ ở Việt Nam và Hàn Quốc trong các doanh nghiệp.
  4. Đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về HĐLĐ của Việt Nam và Hàn Quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận, thực hiện và giải quyết các vấn đề liên quan.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quy định pháp luật về HĐLĐ của Việt Nam (trọng tâm là BLLĐ năm 2012) và Hàn Quốc (trọng tâm là Luật Tiêu chuẩn Lao động), cùng các văn bản hướng dẫn thi hành; đồng thời nghiên cứu pháp luật HĐLĐ của ILO và một số quốc gia tiêu biểu (Đức, Pháp, Anh, Nhật Bản, Trung Quốc).

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Luận án tiếp cận HĐLĐ dưới góc độ luật học chuyên ngành pháp luật lao động, tập trung vào 3 nội dung cốt lõi: giao kết HĐLĐ, thực hiện HĐLĐ và chấm dứt HĐLĐ.
  • Phạm vi loại trừ: Luận án không đi sâu nghiên cứu các nội dung về giải quyết tranh chấp HĐLĐ, xử lý vi phạm pháp luật HĐLĐ, HĐLĐ đối với NLĐ là người nước ngoài và HĐLĐ trong hoạt động cho thuê lại lao động.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo từng nhóm tài liệu:

Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Hệ thống giáo trình: Giáo trình Luật Lao động Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (Lưu Bình Nhưỡng chủ biên, tái bản lần thứ 7 năm 2014); Giáo trình Luật Lao động của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2011); Trường Đại học Mở Hà Nội (2012); Trường Đại học Lao động – Xã hội (2012); Đại học Huế (2013); Đại học Công đoàn (2015).
  • Sách chuyên khảo và tham khảo: Phạm Công Bảy với Tìm hiểu BLLĐ Việt Nam (2002) và Soạn thảo, ký kết HĐLĐ và giải quyết tranh chấp về HĐLĐ (2005); TS. Nguyễn Hữu Chí với Pháp luật HĐLĐ Việt Nam – thực trạng và phát triển (2003); TS. Lưu Bình Nhưỡng (chủ biên) với Bình luận khoa học BLLĐ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2015); ThS. Phan Thị Thanh Huyền (chủ biên) với HĐLĐ, thỏa ước lao động tập thể và giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam (2014); TS. Đỗ Thị Dung với Pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ ở Việt Nam (2016).
  • Đề tài nghiên cứu khoa học: Pháp luật Việt Nam với các nhà đầu tư Nhật Bản (2009, TS. Lưu Bình Nhưỡng chủ nhiệm); Nghiên cứu nhằm góp phần sửa đổi, bổ sung BLLĐ trong giai đoạn hiện nay (2010, TS. Trần Thị Thúy Lâm chủ nhiệm); Áp dụng pháp luật lao động trong quản trị nhân sự tại doanh nghiệp (2011, TS. Đỗ Ngân Bình chủ nhiệm); Cho thuê lại lao động – Một hướng điều chỉnh của pháp luật lao động Việt Nam... (2013, TS. Nguyễn Xuân Thu chủ nhiệm); sách thực tiễn xét xử 72 vụ án lao động điển hình tóm tắt và bình luận (2004, ThS. Nguyễn Việt Cường chủ biên).
  • Luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hữu Chí (2002) về HĐLĐ trong cơ chế thị trường; Luận văn thạc sĩ (2001) và Luận án tiến sĩ (2009) của Phạm Thị Thúy Nga về HĐLĐ vô hiệu; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hoa Tâm (2013) về đơn phương chấm dứt HĐLĐ; Luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Dung (2014) về quyền quản lý lao động.
  • Bài viết tạp chí chuyên ngành: Các bài viết của Lưu Bình Nhưỡng (1995, 1996, 1997, 2002, 2009, 2012); Đào Thị Hằng (2011); Nguyễn Hữu Chí (2003, 2013); Trần Thị Thúy Lâm (2009); Bùi Kim Ngân (2012, 2013); Đỗ Thị Dung (2014); Lê Thị Hoài Thu (2014, 2015); Đinh Thị Chiến (2015); Đoàn Thị Phương Diệp (2015); Nguyễn Băng Tú (2015); Nguyễn Thị Bích (2015).

Các công trình nghiên cứu tại Hàn Quốc:

  • Giáo trình và chuyên khảo: World of Labour Laws in Korea (2015) của Lee John; Labour Law in Korea (2011) của Lim Hyung Bae; HĐLĐ đồng thời soạn thảo và áp dụng của nội quy làm việc (2013) của Kim Soo-ok; Hỏi đáp về luật lao động (2016) của Bộ Lao động Hàn Quốc.
  • Đề tài và báo cáo nghiên cứu: Báo cáo của Hiệp hội Luật Lao động Hàn Quốc (2006) về tiếp thu luật HĐLĐ nước ngoài; nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Lao động Hàn Quốc (2008) về quan hệ lao động thời kỳ quá độ.
  • Luận án và luận văn: Luận án tiến sĩ của Lee Young Hee (1987, Đại học Quốc gia Seoul); Luận án tiến sĩ của Lee Seung Gil (1999, Đại học Sungkyunkwan); Luận án tiến sĩ của No Sang Hyeon (2004, Đại học Tokyo); Luận văn thạc sĩ của Ryu Jee Yul (2008), Kim Tae Woo (2010), Kim Hyun Soo (2007) tại Đại học Hàn Quốc.
  • Bài báo khoa học: Ha Kyung Hyo (2014) về kê khai sai lý lịch và hủy bỏ HĐLĐ; Khang Heon-g (2012) về thời hạn lao động; No Byung Ho (2008) về thay đổi điều kiện lao động và sa thải; Shin Dong Jin (2014).

Các công trình nghiên cứu quốc tế:

  • Nghiên cứu luật Nhật Bản: Skeno Khazo (Japanese Labor Law, 2015, bản dịch của Lee John).
  • Nghiên cứu luật Trung Quốc: Ronald Brown (Understanding Labor and Employment Law in China, 2009); Chen (Labour Law in China, 2010).
  • Nghiên cứu luật các nước phương Tây: Dawn D. Bennett-Alexander và Laura B. Pincus (Employment Law for Business, 2005) về hệ thống 20 tiêu chí xác định quan hệ lao động; Hugh Collins (Employment Law, 2010, Đại học Oxford); A.C.L. Davies (EU Labor Law, 2012); A. Davies (Perspectives on Labour Law, 2003); Lord Wedderburn (40 Years On, Industrial Law Journal, 2008).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình nêu trên nghiên cứu riêng rẽ pháp luật lao động Việt Nam hoặc Hàn Quốc, hoặc so sánh luật Hàn Quốc với Nhật Bản, Châu Âu. Chưa có công trình nào so sánh trực tiếp, toàn diện chế định HĐLĐ giữa Việt Nam và Hàn Quốc trên cả bình diện quy định pháp luật thực định và thực tiễn thi hành trong bối cảnh giao lưu kinh tế, đầu tư và dịch chuyển lao động giữa hai nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tiếp cận sự hình thành, phát triển và biến đổi của pháp luật HĐLĐ gắn liền với các quy luật kinh tế – xã hội của nền kinh tế thị trường. Chế định HĐLĐ được phân tích dựa trên lý thuyết về tính chất hàng hóa đặc thù của sức lao động, mối quan hệ phụ thuộc pháp lý (quản lý – chịu sự quản lý) giữa người sử dụng lao động và người lao động, cùng các nguyên tắc bảo vệ quyền tự do thỏa thuận và bảo đảm quyền lợi của bên yếu thế theo chuẩn mực của Tổ chức Lao động Quốc tế (như Khuyến nghị số 119 năm 1963 về chấm dứt việc làm, Công ước số 114).

Phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai theo từng chương:

  • Chương 1: Sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê và phương pháp khái quát hóa nhằm hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước.
  • Chương 2: Sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và phương pháp lịch sử nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về HĐLĐ và pháp luật HĐLĐ.
  • Chương 3: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và đặc biệt là phương pháp so sánh luật học (so sánh đối chiếu quy định pháp luật của Việt Nam, Hàn Quốc và một số quốc gia khác như Đức, Pháp, Anh, Nhật Bản).
  • Chương 4: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và khái quát hóa nhằm xây dựng các định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu bao gồm:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Bộ luật Lao động Việt Nam năm 2012 (và các phiên bản 1994, 2002, 2006, 2007); Luật Tiêu chuẩn Lao động Hàn Quốc; Bộ luật Dân sự Đức (BGB); Bộ luật Lao động và Bộ luật Dân sự Pháp; Luật Quyền việc làm Vương quốc Anh (Employment Rights Act 1996); Luật Tiêu chuẩn Lao động và Luật HĐLĐ Nhật Bản; các công ước, khuyến nghị của ILO.
  • Dữ liệu thực tiễn và án lệ: Các án lệ của Tòa án Tối cao Nhật Bản, Tòa án Pháp, Tòa án Anh; các báo cáo thực tiễn xét xử của Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam; dữ liệu điều tra, báo cáo của Bộ Lao động Hàn Quốc và Cơ quan Thống kê Hàn Quốc giai đoạn 2007–2015.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tập trung tổng thuật, đánh giá các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về HĐLĐ. Tác giả chỉ ra điểm đồng thuận trong học thuật về khái niệm HĐLĐ: là sự thỏa thuận làm phát sinh quan hệ lao động, theo đó NLĐ cung ứng sức lao động, nhận tiền lương và chịu sự quản lý của NSDLĐ. Về đặc trưng, các tài liệu thống nhất 5 thuộc tính: làm việc có trả công, trực tiếp thực hiện, chịu sự quản lý điều hành, có thỏa thuận thời hạn hoặc không xác định thời hạn, và hình thành trong khuôn khổ pháp luật lao động.

Chương 1 cũng trích xuất các dữ liệu thống kê từ Cơ quan Thống kê Hàn Quốc (2015) phản ánh sự biến chuyển của thị trường lao động:

  • Năm 2013: Tuyển dụng trực tiếp chiếm 90,03%, tuyển dụng gián tiếp chiếm 6,68%; làm việc toàn thời gian chiếm 94,31%, làm việc theo giờ chiếm 5,69%; lao động tự quyết định thời gian làm việc chiếm 23,9%, không được tự quyết định chiếm 76,1%.
  • Năm 2015: Lao động không chính quy tại Hàn Quốc chiếm khoảng 6.000.000 người trên tổng số khoảng 18.000.000 NLĐ (chiếm xấp xỉ 30%). Trong nhóm 2.206.000 lao động phi chính quy được khảo sát chi tiết, cơ cấu gồm: 210.000 người lao động phái cử, 656.000 người làm dịch vụ/phục vụ, 494.000 người thuộc hình thái đặc biệt, 876.000 người làm công việc nhật dụng (1 ngày), và 55.000 người làm việc tại nhà.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng lao động và pháp luật về hợp đồng lao động

Chương 2 luận giải các khái niệm nền tảng:

  • Khái niệm, bản chất và vai trò của HĐLĐ: Bản chất của HĐLĐ là hợp đồng trao đổi sức lao động – một loại hàng hóa đặc thù không thể tách rời nhân thân người bán và không thể chuyển giao quyền sở hữu theo phương thức mua bán tài sản thông thường. HĐLĐ vừa mang tính chất bình đẳng, tự do theo luật tư, vừa mang tính phụ thuộc pháp lý của NLĐ vào quyền chỉ huy, quản lý của NSDLĐ.
  • Khái niệm và nội dung điều chỉnh của pháp luật HĐLĐ: Pháp luật HĐLĐ là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giao kết, thực hiện, thay đổi, tạm hoãn và chấm dứt HĐLĐ, xác lập giới hạn quyền lực quản lý của NSDLĐ và bảo vệ các quyền cơ bản của NLĐ.

Chương 3: Thực trạng pháp luật về hợp đồng lao động từ góc độ so sánh giữa Việt Nam và Hàn Quốc

Chương 3 là trọng tâm của luận án, so sánh đối chiếu pháp luật hai nước trên 3 giai đoạn:

Nội dung so sánh Pháp luật Việt Nam (BLLĐ 2012) Pháp luật Hàn Quốc (LTCLĐ & liên quan) Kinh nghiệm quốc tế được đối chiếu
Phạm vi & Chủ thể Áp dụng chung cho mọi NSDLĐ và NLĐ có giao kết quan hệ lao động. Chỉ áp dụng bắt buộc với cơ sở có từ 5 NLĐ trở lên. Dưới 5 lao động áp dụng hạn chế. Thụy Điển/Mỹ áp dụng bảng 20 tiêu chí xác định tư cách người làm công chịu sự quản lý.
Ủy quyền giao kết & Kê khai thông tin Chưa có quy định xử lý việc lừa dối, kê khai sai lý lịch có tính chất quyết định tuyển dụng. Không quy định trong LTCLĐ; giải quyết bằng Luật Dân sự hoặc án lệ Tòa án Tối cao (Ha Kyung Hyo, 2014). Án lệ Anh, Pháp: bảo đảm nghĩa vụ trung thực và thẩm tra lý lịch hợp pháp.
Điều chuyển công việc Quy định cụ thể tại Điều 31 BLLĐ (tối đa 60 ngày/năm khi có lý do đột xuất). Áp dụng theo quyền điều động của NSDLĐ kết hợp án lệ, xét tính chính đáng và thiệt hại. Đức (Điều 106 Luật Kinh doanh), Nhật Bản (Điều 7 Luật HĐLĐ), Anh (không phá vỡ tín nhiệm).
Sửa đổi, bổ sung HĐLĐ Quy định cụ thể trong luật; bắt buộc có sự thỏa thuận, thống nhất bằng văn bản. Căn cứ theo án lệ, thỏa ước tập thể và nội quy làm việc; nguyên tắc không được đơn phương giảm chuẩn. Anh coi việc đơn phương sửa đổi dẫn đến NLĐ thôi việc là "sa thải ngụy tạo" (constructive dismissal).
Tạm hoãn HĐLĐ Quy định chi tiết tại Điều 32 BLLĐ; NLĐ có quyền được nhận lại làm việc sau tạm hoãn. Không quy định trong LTCLĐ; xử lý theo nội quy lao động, thỏa ước tập thể hoặc án lệ. Pháp thừa nhận học thuyết tạm hoãn; Đức quy định NSDLĐ trả lương trong trở ngại ngắn hạn (Điều 616 BGB).
Căn cứ & Thủ tục chấm dứt HĐLĐ Liệt kê các trường hợp tại Điều 36, 37, 38 BLLĐ; thủ tục báo trước 3, 30, 45 ngày tùy loại HĐ. Điều 23, 24 LTCLĐ; cấm sa thải không có lý do chính đáng; báo trước 30 ngày hoặc trả 1 tháng lương. Khuyến nghị 119 ILO (sa thải vì năng lực/hành vi hoặc lý do kinh tế; 5 tiêu chuẩn sa thải kinh tế).
HĐLĐ vô hiệu Phân loại vô hiệu từng phần và vô hiệu toàn bộ; do Tòa án/Thanh tra lao động tuyên bố. Điều 15 LTCLĐ: điều khoản thấp hơn tiêu chuẩn luật định đương nhiên bị vô hiệu và thay thế. Đức (Điều 139 BGB), Nhật Bản (Điều 13 Luật Tiêu chuẩn Lao động).

Luận giải cơ sở của sự tương đồng và khác biệt:

  • Điểm tương đồng bắt nguồn từ việc cả hai quốc gia đều phát triển kinh tế thị trường, chịu sự tác động của quá trình hội nhập quốc tế và đều tiếp thu các chuẩn mực lao động cốt lõi của ILO.
  • Điểm khác biệt xuất phát từ trình độ phát triển kinh tế, truyền thống lập pháp (Việt Nam chú trọng văn bản hóa chi tiết trong bộ luật; Hàn Quốc kết hợp giữa luật khung, nội quy doanh nghiệp và vai trò điều tiết mạnh mẽ của án lệ), cũng như sự khác biệt về cơ cấu quy mô doanh nghiệp và tổ chức thị trường lao động.

Chương 4: Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng lao động ở Việt Nam và Hàn Quốc

Chương 4 xác định 5 yêu cầu hoàn thiện:

  1. Bảo đảm sự phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội và hoạt động sản xuất kinh doanh.
  2. Bảo đảm sự phù hợp với thay đổi trong hoàn cảnh tuyển dụng và tổ chức lao động.
  3. Bảo đảm sự phù hợp với nhận thức mới về quan hệ lao động (tính linh hoạt và bảo vệ việc làm).
  4. Mở rộng quyền tự do thỏa thuận hợp đồng giữa các bên.
  5. Bảo đảm tính tương thích với các tiêu chuẩn lao động quốc tế và xu thế hội nhập.

Các nhóm kiến nghị cụ thể được đề xuất gồm:

  • Về đối tượng áp dụng: Mở rộng định nghĩa NLĐ và NSDLĐ để bao quát các hình thức lao động mới (lao động nền tảng công nghệ, lao động bán thời gian, lao động phái cử).
  • Về thời hạn HĐLĐ: Rà soát các loại HĐLĐ theo hướng linh hoạt hơn, hạn chế tình trạng chuyển đổi hình thức nhằm trốn tránh nghĩa vụ bảo hiểm và phúc lợi.
  • Về tạm hoãn HĐLĐ: Cân bằng nghĩa vụ giữa NLĐ và NSDLĐ trong việc tiếp nhận trở lại sau thời gian tạm hoãn kéo dài, tránh tạo gánh nặng bất hợp lý cho doanh nghiệp.
  • Về điều chuyển NLĐ: Bổ sung các tiêu chí cụ thể để đánh giá tính "chính đáng" và "hợp lý" của quyết định điều chuyển, ngăn ngừa việc lạm dụng quyền quản lý.
  • Về chấm dứt HĐLĐ vì lý do kinh tế hoặc cơ cấu lại doanh nghiệp: Hoàn thiện quy trình 5 bước theo chuẩn mực quốc tế (tính cần thiết, tham vấn đại diện NLĐ, nỗ lực tránh sa thải, tiêu chí lựa chọn công bằng, thông báo cơ quan quản lý).
  • Xây dựng Luật Hợp đồng lao động độc lập: Kiến nghị nghiên cứu ban hành một đạo luật chuyên biệt về HĐLĐ tại cả Việt Nam và Hàn Quốc nhằm hệ thống hóa toàn diện các quy phạm, tách biệt rõ ràng với quan hệ lao động tập thể.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn như sau:

  • Về lý luận: Làm sâu sắc và hoàn thiện hệ thống lý luận về HĐLĐ và pháp luật HĐLĐ, làm rõ bản chất hàng hóa đặc thù của sức lao động, tính phụ thuộc pháp lý kết hợp tự do hợp đồng, và xác định rõ nội dung điều chỉnh của pháp luật HĐLĐ trong nền kinh tế thị trường.
  • Về thực trạng và so sánh luật học: Phân tích toàn diện, hệ thống các quy định pháp luật HĐLĐ của Việt Nam và Hàn Quốc trên cả 3 phương diện: giao kết, thực hiện, chấm dứt; chỉ rõ những điểm hợp lý, bất cập, điểm tương đồng và dị biệt giữa hai hệ thống pháp luật trong mối liên hệ với thực tiễn áp dụng tại doanh nghiệp.
  • Về luận giải nguyên nhân: Luận giải có cơ sở khoa học về các yếu tố kinh tế, xã hội, lịch sử lập pháp và tập quán quản trị tác động đến sự tương đồng và khác biệt giữa pháp luật HĐLĐ Việt Nam và Hàn Quốc.
  • Về giải pháp: Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao tính tương thích pháp lý giữa hai nước, hoàn thiện các quy định về phạm vi áp dụng, điều chuyển, tạm hoãn, chấm dứt hợp đồng, và đề xuất định hướng xây dựng Luật Hợp đồng lao động chuyên biệt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong ba giai đoạn chính của quan hệ HĐLĐ cá nhân (giao kết, thực hiện, chấm dứt), chưa mở rộng phân tích chuyên sâu các lĩnh vực liên quan mật thiết gồm:

  • Cơ chế giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và tập thể phát sinh từ HĐLĐ.
  • Quy định và thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật về HĐLĐ.
  • Chế độ pháp lý đối với lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam và Hàn Quốc.
  • Pháp luật điều chỉnh quan hệ cho thuê lại lao động (lao động phái cử).

Về hướng nghiên cứu tiếp, văn bản chỉ ra sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về:

  • Hậu quả pháp lý và cơ chế xử lý trường hợp NLĐ cung cấp thông tin lý lịch gian dối khi giao kết hợp đồng.
  • Hoàn thiện chế định ủy nhiệm giao kết HĐLĐ nhằm tránh tình trạng cưỡng bức lao động.
  • Tác động của các mô hình kinh tế mới (kinh tế chia sẻ, nền tảng số) đến việc xác lập quan hệ HĐLĐ tại hai quốc gia.

Giá trị tham khảo

Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp nguồn tư liệu khoa học có giá trị tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong giảng dạy, nghiên cứu môn Luật Lao động, Luật Kinh tế và môn So sánh luật học tại các trường đại học khối luật.
  • Cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học và kinh nghiệm lập pháp so sánh phục vụ quá trình sửa đổi, bổ sung BLLĐ Việt Nam cũng như rà soát các văn bản pháp luật lao động liên quan.
  • Cộng đồng doanh nghiệp: Giúp các chủ doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư tại Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang Hàn Quốc nắm vững khung pháp lý sở tại, hạn chế vi phạm và giảm thiểu tranh chấp lao động.
  • Người lao động và tổ chức phái cử: Hỗ trợ NLĐ Việt Nam đi làm việc tại Hàn Quốc và các đơn vị dịch vụ xuất khẩu lao động hiểu rõ quyền, nghĩa vụ pháp lý theo luật Hàn Quốc.
  • Cơ quan tài phán và giải quyết tranh chấp: Cung cấp cơ sở lý luận và án lệ đối chiếu phục vụ Tòa án, Trọng tài lao động trong quá trình giải thích và áp dụng pháp luật khi xét xử tranh chấp HĐLĐ.

Câu hỏi thường gặp

1. Phạm vi áp dụng của Luật Tiêu chuẩn Lao động Hàn Quốc đối với quy mô doanh nghiệp được quy định như thế nào?
Theo quy định của LTCLĐ Hàn Quốc được trích dẫn trong luận án, các quy định của luật này chỉ bắt buộc áp dụng đối với người sử dụng lao động có từ 5 người lao động trở lên. Trường hợp NSDLĐ sử dụng dưới 5 lao động hoặc chỉ sử dụng lao động là thành viên trong gia đình thì không áp dụng các quy định chuẩn của luật HĐLĐ này.

2. Pháp luật Việt Nam và Hàn Quốc xử lý thế nào khi người lao động cung cấp thông tin sai sự thật trong quá trình tuyển dụng?
Luận án chỉ ra rằng pháp luật HĐLĐ của cả hai nước đều chưa có quy định trực tiếp, rõ ràng về việc xử lý HĐLĐ vô hiệu hoặc quyền sa thải của NSDLĐ khi NLĐ cung cấp sai thông tin lý lịch mang tính quyết định tuyển dụng. Tại Hàn Quốc, các trường hợp này thường phải viện dẫn quy định của Luật Dân sự hoặc giải quyết thông qua án lệ của Tòa án Tối cao.

3. Điểm khác biệt lớn nhất về chế định tạm hoãn HĐLĐ giữa Việt Nam và Hàn Quốc là gì?
Tại Việt Nam, các trường hợp tạm hoãn HĐLĐ được luật hóa cụ thể tại Điều 32 BLLĐ năm 2012 gắn với quyền phục chức của NLĐ. Ngược lại, tại Hàn Quốc, luật lao động không có điều khoản quy định riêng về tạm hoãn HĐLĐ; việc tạm hoãn được thực hiện căn cứ vào Nội quy lao động, Thỏa ước lao động tập thể hoặc án lệ của Tòa án.

4. Khuyến nghị số 119 năm 1963 của ILO đưa ra các tiêu chí nào đối với việc sa thải người lao động?
Theo Khuyến nghị số 119 của ILO được luận án viện dẫn, việc chấm dứt việc làm (sa thải) chỉ được coi là chính đáng khi dựa trên hai nhóm lý do: (1) năng lực làm việc hoặc hành vi không đúng của NLĐ, và (2) lý do kinh tế (thu hẹp sản xuất, tái cơ cấu của doanh nghiệp). Đối với sa thải vì lý do kinh tế, doanh nghiệp phải nỗ lực thực hiện các biện pháp né tránh sa thải và tuân thủ quy trình thỏa thuận, thông báo.

5. Cơ cấu lao động không chính quy tại Hàn Quốc theo số liệu thống kê năm 2015 trong luận án gồm những nhóm nào?
Theo số liệu của Cơ quan Thống kê Hàn Quốc năm 2015 nêu trong luận án, lao động không chính quy chiếm khoảng 6.000.000 / 18.000.000 lao động (xấp xỉ 30%). Trong nhóm 2.206.000 người khảo sát chi tiết, có: 210.000 lao động phái cử, 656.000 người làm dịch vụ, 494.000 người ở hình thái đặc biệt, 876.000 người làm việc 1 ngày, và 55.000 người làm việc tại nhà.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Park Jae Myung là công trình khoa học pháp lý so sánh chuyên sâu về chế định hợp đồng lao động giữa Việt Nam và Hàn Quốc trên các phương diện giao kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng. Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp so sánh luật học, tác giả đã làm sáng tỏ nền tảng lý luận, phân tích thực trạng pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn thi hành tại doanh nghiệp của cả hai quốc gia. Công trình đã chỉ rõ các điểm tương đồng, khác biệt và nguyên nhân kinh tế – xã hội chi phối, đồng thời đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật thực chất, bao gồm cả đề xuất xây dựng đạo luật riêng về HĐLĐ nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.