Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 1. Một số vấn đề lý luận về đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động 1. Khái niệm đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, khái niệm chấm dứt hợp đồng lao động được hiểu là: "sự kiện pháp lý mà một hoặc cả hai bên không tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động" 1. Từ khái niệm này có thể hiểu chấm dứt hợp đồng lao động là sự kiện chấm dứt tất cả các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động mà các bên đã thoả thuận trước đó.
Cũng như pháp luật của Việt Nam, pháp luật lao động của hầu hết các nước trên thế giới hiện nay cũng chưa đưa ra được định nghĩa chấm dứt hợp đồng lao động. Nếu pháp luật lao động của Trung Quốc đồng nhất các khái niệm sa thải, huỷ bỏ hợp đồng và cắt giảm lao động thì trong Đạo luật về Tiêu chuẩn lao động của Hàn Quốc thì các hình thức chấm dứt hợp đồng lao động đều được gọi là "sa thải". Cho đến nay, khái niệm chấm dứt hợp đồng lao động cũng chưa được đề cập một cách trực tiếp trong các văn bản pháp luật lao động Việt Nam. Chấm dứt hợp đồng lao động được hiểu là chấm dứt một quan hệ pháp luật về lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động được pháp luật thừa nhận hoặc cho phép nhằm chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng lao động.
Chấm dứt hợp đồng lao động là sự kiện 1. Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (Luật lao động, Luật đất đai, Tư pháp Quốc tế), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 8 pháp lý quan trọng bởi hậu quả pháp lý của nó là kết thúc quan hệ lao động. Điều đó sẽ ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập, cuộc sống của người lao động, gây xáo trộn lao động và có thể gây ảnh hưởng, thiệt hại cho người sử dụng lao động.
Căn cứ vào các sự kiện pháp lý dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng lao động có thể chia thành hai trường hợp là đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là biện pháp mà các bên có thể sử dụng khi những cam kết trong hợp đồng lao động không được thực hiện đầy đủ, hoặc một bên có hành vi vi phạm pháp luật lao động. Các bên thực hiện quyền này khi quyền lợi của mình có nguy cơ hoặc đang, đã bị vi phạm mà cần có biện pháp để bảo vệ. Có thể hiểu rằng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là việc một bên tự ý chấm dứt thực hiện các quyền và nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng lao động trước thời hạn mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia.
Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có thể bằng văn bản hay bằng lời nói. Nếu bằng hình thức văn bản, văn bản về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải được gửi cho chủ thể bên kia và ý chí chấm dứt quan hệ lao động trong đó phải được biểu đạt rõ ràng, cụ thể để chủ thể đối tác có thể hiểu được. Nếu bằng hình thức lời nói thì bên bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải được truyền đạt, thông báo cụ thể và có thể hiểu được chính xác nội dung của thông báo đó. Thông thường, "quyền" được hiểu là những điều mà mình làm được.
Theo Từ điển Tiếng Việt, "quyền" là điều mà xã hội và pháp luật công nhận, cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi"2. Dưới góc độ khoa học pháp lý, "quyền" của chủ thể quan hệ pháp luật là "khả năng xử sự của chủ thể được pháp luật trao cho - đó là khả năng của chủ thể quan hệ pháp luật được thực 2. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2010), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr. 9 hiện những hành vi nhất định mà pháp luật cho phép.
Quyền của chủ thể quan hệ pháp luật khả năng có nghĩa là chủ thể có thể lựa chọn giữa việc xử sự theo cách thức mà nó được phép tiến hành hoặc không xử sự như vậy" 3. Theo Từ điển Luật học "quyền" được hiểu "là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế"4. Trong quan hệ pháp luật "quyền chủ thể trong quan hệ pháp luật là khả năng xử sự của những người tham gia quan hệ được quy phạm pháp luật quy định trước và được bảo vệ bởi sự cưỡng chế của Nhà nước"5. Cùng với quyền là nghĩa vụ của chủ thể, "nghĩa vụ" được hiểu là những điều phải làm, phải tuân thủ.
Theo Từ điển Tiếng Việt, "nghĩa vụ" là "việc bắt buộc phải làm đối với xã hội, đối với người khác mà pháp luật hay đạo đức quy định"6. Quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý là nội dung của quan hệ pháp luật, nếu quyền chủ thể là khả năng xử sự thì nghĩa vụ pháp lý là "cách xử sự bắt buộc được quy phạm pháp luật xác định trước mà một bên phải tiến hành nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền chủ thể của bên kia"7. Quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý trong những quan hệ pháp luật cụ thể là hai mặt của một thể thống nhất, nó phản ánh mối liên hệ của những người tham gia quan hệ pháp luật. Trong quan hệ lao động, người lao động và người sử dụng lao động 3.
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2004), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2010), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2004), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2010), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2004), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 10 đều có các quyền và nghĩa vụ đối với nhau; các quyền và nghĩa vụ giữa người lao động và người sử dụng lao động là bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau. Cả người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền chấm dứt hợp đồng lao động. "Đơn phương" theo Từ điển tiếng Việt "có tính chất của một bên, không có sự thỏa thuận hoặc tham gia của bên kia".
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là hành vi pháp lý trong đó làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ lao động. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cũng chính là việc "một bên chủ thể quyết định chấm dứt việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia"8. Đào Thị Hằng: "đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là hành vi pháp lý trong đó thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm chấm dứt quan hệ lao động với bên kia. Ý chí bên này phải được biểu thị ra bên ngoài dưới hình thức nhất định và phải được truyền đạt tới chủ thể đối tác mà không cần thiết phải được chủ thể đó chấp thuận.
Về nguyên tắc, hình thức để biểu thị ý chí có thể bằng văn bản hoặc bằng lời nói. Nếu hình thức văn bản, văn bản đó phải được gửi cho chủ thể bên kia và ý chí chấm dứt quan hệ lao động trong đó phải được biểu đạt rõ ràng, cụ thể để người nhận nó là chủ thể đối tác có thể hiểu được"9. Tác giả Nguyễn Thị Hoa Tâm cho rằng "Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là hành vi pháp lý của một bên chủ thể nhằm làm chấm dứt hiệu lực pháp lý của hợp đồng trước thời hạn mà không phụ thuộc và ý chí của bên kia"10. Phan Thị Thủy (2013), Quyền chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động trong pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.
Đào Thị Hằng (2001), Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, Tạp chí Luật học, tr. Nguyễn Thị Hoa Tâm (2013), Pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 11 Theo quan điểm của TS. Nguyễn Hữu Chí: "Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là biện pháp mà các bên có thể sử dụng khi những cam kết trong hợp đồng lao động không được thực hiện đúng, đầy đủ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật lao động"11.
Như vậy, dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng các quan điểm về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nêu trên đều đưa ra hai đặc điểm của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như sau: + Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là hành vi của một bên trong quan hệ lao động tự ý thực hiện mà không có sự đồng ý của bên còn lại. + Mục đích của hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhằm chấm dứt hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động trước thời hạn ghi trong hợp đồng lao động. Dựa trên những đặc điểm này, có thể hiểu quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động là khả năng xử sự của người sử dụng lao động được pháp luật thừa nhận, cho phép tự ý chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn mà không cần thiết phải có sự đồng ý của người lao động.