Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống kinh tế thị trường, tiền lương là một trong những công cụ kinh tế nhạy cảm và quan trọng, tác động trực tiếp đến đời sống chính trị - xã hội của mọi quốc gia. Tại Việt Nam, quá trình mở rộng các khu công nghiệp trong những thập niên đầu thế kỷ 21 đã thúc đẩy số lượng việc làm gia tăng, đưa chính sách tiền lương nói chung và tiền lương tối thiểu nói riêng trở thành vấn đề cốt lõi được Nhà nước, người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) đặc biệt quan tâm. Dù cơ chế tiền lương đã có bước chuyển biến từ sự can thiệp hoàn toàn của Nhà nước sang cơ chế ba bên thông qua việc thành lập Hội đồng Tiền lương Quốc gia theo Bộ luật Lao động năm 2012, thực tiễn áp dụng chính sách tiền lương tối thiểu vẫn bộc lộ nhiều bất cập.

Sau giai đoạn dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ kịp thời như Nghị quyết số 23, Nghị quyết số 16 và Nghị quyết số 68. Tuy nhiên, việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu vẫn phải đối mặt với bài toán dung hòa giữa việc đảm bảo mức sống tối thiểu cho NLĐ và khả năng chi trả, duy trì sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhận thức chưa thống nhất về bản chất của lương tối thiểu, tình trạng "lương chưa tăng giá đã tăng", và hiện tượng doanh nghiệp lách luật đóng bảo hiểm xã hội đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu toàn diện khung pháp lý hiện hành.

Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật lao động về lương tối thiểu – Thực trạng và một số kiến nghị" được thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội nhằm làm rõ lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện chế định pháp lý này. Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Khái quát sơ lược sự phát triển của chế định tiền lương tối thiểu; tổng quan các quy định về tiền lương tối thiểu trong pháp luật lao động quốc tế và pháp luật lao động Việt Nam.
  2. Phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chế định tiền lương tối thiểu; tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định về việc xác lập, điều chỉnh và áp dụng chính sách tiền lương tối thiểu.
  3. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tiền lương tối thiểu trong giai đoạn hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận bao gồm các quan điểm lý luận về tiền lương tối thiểu, hệ thống quy định pháp luật Việt Nam về tiền lương tối thiểu và thực tiễn thi hành các quy định này. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào chính sách pháp luật tiền lương tối thiểu hiện hành của Việt Nam, trọng tâm là quy định về tiền lương tối thiểu vùng theo Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định số 38/2022/NĐ-CP của Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về giá trị hàng hóa sức lao động, trong đó khẳng định giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động gồm 03 loại chi phí:

  • Chi phí nuôi sống và duy trì khả năng lao động của bản thân NLĐ.
  • Chi phí học tập, đào tạo chuyên môn để trở thành người lao động.
  • Chi phí nuôi sống gia đình và con cái của NLĐ.

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng Tháp nhu cầu của Maslow để chỉ ra rằng hai bậc thang cơ bản nhất là nhu cầu sinh lý (Physiological needs) và nhu cầu an toàn (Safety needs) phải được đáp ứng thông qua mức lương tối thiểu để NLĐ yên tâm làm việc.

Về mặt pháp lý, công trình đối chiếu các văn kiện quốc tế của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) bao gồm: Hiến chương thành lập ILO năm 1919, Công ước số 26 (năm 1928), Khuyến nghị số 135 (năm 1970) và Công ước số 131 (năm 1970) về Xác lập tiền lương tối thiểu. Tại Việt Nam, khóa luận rà soát lịch sử lập pháp từ Sắc lệnh số 29-SL ngày 12/5/1947, Bộ luật Lao động qua các thời kỳ (năm 1994, 2012, 2019), các Nghị định quy định mức lương tối thiểu vùng từ năm 2007 đến năm 2022, cùng Quyết định số 959/QĐ-BHXH.

Khóa luận vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được kết hợp bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật.
  • Phương pháp lịch sử để theo dõi tiến trình thay đổi chính sách tiền lương.
  • Phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định của Việt Nam với các tiêu chuẩn của ILO và mô hình của Singapore, nhóm nước Bắc Âu, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Campuchia, Malaysia...).
  • Phương pháp thống kê, xử lý dữ liệu thực tế từ các báo cáo chuyên ngành.

Nguồn dữ liệu của đề tài được trích xuất từ các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, báo cáo của ILO giai đoạn 2015–2022, báo cáo về mức lương đủ sống năm 2022 của Viện nghiên cứu Anker, số liệu khảo sát của Hiệp hội Dệt may, cùng các công trình nghiên cứu trước đó của Đào Duy Phương (2010), Lưu Thị Lam (2014), Quản Thị Mai Hương (2018), Trịnh Thị Mai Hương (2018) và nghiên cứu thực nghiệm của TS. Nguyễn Việt Cường (2022).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về tiền lương tối thiểu và pháp luật lao động về tiền lương tối thiểu tại Việt Nam

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng về tiền lương và tiền lương tối thiểu. Dưới góc độ pháp lý, Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2019 định nghĩa tiền lương là số tiền NSDLĐ trả cho NLĐ theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc/chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Điều 91 xác định mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho NLĐ làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.

Tác giả phân tích các tiêu chí phân loại tiền lương tối thiểu:

  • Theo tính chất và phạm vi áp dụng: Lương tối thiểu chung (áp dụng toàn quốc, mang tính bắt buộc chung) và lương tối thiểu vùng (xác định căn cứ vào mức sống, thu nhập bình quân, điều kiện kinh tế từng địa phương).
  • Theo thời gian: Lương tối thiểu theo giờ, theo tuần, theo tháng. Trong đó, Bộ luật Lao động năm 2019 lần đầu tiên ghi nhận mức lương tối thiểu theo giờ bên cạnh lương tối thiểu theo tháng, đồng thời bãi bỏ khái niệm lương tối thiểu ngành vốn tồn tại trong Bộ luật Lao động năm 2012.
  • Theo thẩm quyền ban hành: Lương tối thiểu do Nhà nước quyết định và công bố dựa trên khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương Quốc gia, hoặc lương tối thiểu do doanh nghiệp xác lập qua thỏa ước lao động tập thể (không được thấp hơn mức do Nhà nước quy định).

Chương này cũng phân tích vai trò của pháp luật về lương tối thiểu như một công cụ thể hiện quyền lực nhà nước, là mức sàn bảo vệ NLĐ chống lại sự bóc lột, góp phần ổn định xã hội và là căn cứ xây dựng thang bảng lương. Về kinh nghiệm quốc tế, tác giả chỉ ra cơ chế thỏa thuận ba bên chặt chẽ tại Singapore (Tòa trọng tài lao động, Ủy ban năng suất quốc gia, Hội đồng quốc gia về tiền lương) và mô hình điều tiết bằng thỏa ước tập thể ngành tại các nước Bắc Âu (Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan).

Chương 2: Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật lao động về lương tối thiểu tại Việt Nam trong những năm gần đây

Chương 2 tập trung phân tích số liệu thực tiễn và các quy định hiện hành, trọng tâm là Nghị định số 38/2022/NĐ-CP (áp dụng từ ngày 01/7/2022):

Vùng Mức lương tối thiểu tháng (VNĐ/tháng) Mức lương tối thiểu giờ (VNĐ/giờ)
Vùng I 4.680.000 22.500
Vùng II 4.160.000 20.000
Vùng III 3.640.000 17.500
Vùng IV 3.250.000 15.600

Tác giả tổng hợp chuỗi số liệu điều chỉnh lương tối thiểu vùng từ Nghị định số 167/2007/NĐ-CP đến Nghị định số 38/2022/NĐ-CP, chỉ ra rằng từ năm 2014 đến năm 2022, qua 8 lần điều chỉnh, lương tối thiểu vùng đã tăng trên 72%.

Khi so sánh quốc tế, mức lương tối thiểu của Việt Nam đạt 162 USD/tháng, xếp thứ 159/167 quốc gia được khảo sát. Trong khu vực ASEAN giai đoạn 2015–2022:

  • Việt Nam tăng từ 119 USD lên 168 USD/tháng.
  • Campuchia tăng từ 128 USD lên 194 USD/tháng.
  • Malaysia tăng từ 230 USD lên 341 USD/tháng.
  • Thái Lan tăng từ 208 USD lên 252 USD/tháng.
  • Philippines tăng từ 151 USD lên 177 USD/tháng.

Đáng chú ý, báo cáo của ILO chỉ ra rằng do lạm phát cao, giá trị thực của tiền lương tại nhiều nước suy giảm (Lào giảm hơn 27%, Myanmar giảm hơn 21%, Campuchia giảm 6,5%), trong khi Việt Nam duy trì mức tăng giá trị thực khiêm tốn là 0,7%.

Bên cạnh các tác động tích cực (tạo tiền đề đàm phán, đóng góp vào quỹ an sinh xã hội khi tổng mức đóng bảo hiểm là 34% trong đó NSDLĐ đóng 23,5% và NLĐ đóng 10,5%; kết quả nghiên cứu của TS. Nguyễn Việt Cường chỉ ra khi lương tối thiểu tăng 1% làm lương tháng tăng 0,83% và lương giờ tăng 0,32%), tác giả đã chỉ rõ 04 nhóm hạn chế nghiêm trọng:

  1. Gánh nặng cho doanh nghiệp và tình trạng cắt giảm phụ cấp: Khảo sát tại Hiệp hội Dệt may giai đoạn 2008–2016 cho thấy lương tối thiểu vùng doanh nghiệp trong nước tăng bình quân 26,4%, doanh nghiệp FDI tăng 18,1%, trong khi CPI chỉ tăng 10,7% và năng suất lao động chỉ tăng 3,9%. Để bù đắp chi phí đóng bảo hiểm gia tăng, doanh nghiệp có xu hướng cắt giảm các khoản hỗ trợ như xăng xe, ăn trưa, tiền thưởng và gia tăng áp lực định mức lao động.
  2. Hiện tượng chi phí sinh hoạt tăng nhanh hơn mức tăng lương: Thống kê mức tăng lương tối thiểu từ Nghị định 90/2019/NĐ-CP sang Nghị định 38/2022/NĐ-CP ghi nhận mức tăng từ 5,86% đến 6,12% (Vùng I tăng 260.000 đồng/tháng). Tuy nhiên, sau khi Nghị định 38 có hiệu lực, giá thuê nhà trọ tại Hà Nội tăng từ 10% đến 20% (phòng trọ dao động từ 2,5 - 6 triệu đồng/tháng), kéo theo giá lương thực, thực phẩm tăng, triệt tiêu ý nghĩa của việc tăng lương.
Vùng Mức lương 2020–2022 (VNĐ) Mức lương từ 01/7/2022 (VNĐ) Mức chênh lệch (VNĐ) Tỷ lệ tăng (%)
Vùng I 4.420.000 4.680.000 260.000 5,88%
Vùng II 3.920.000 4.160.000 240.000 6,12%
Vùng III 3.430.000 3.640.000 210.000 6,12%
Vùng IV 3.070.000 3.250.000 180.000 5,86%
  1. Khoảng cách lớn giữa mức lương tối thiểu và mức lương đủ sống: Dẫn chứng Báo cáo của Viện nghiên cứu Anker năm 2022, tổng chi phí sinh hoạt gia đình và mức lương cần thiết để đủ sống cao hơn rất nhiều so với quy định pháp luật:
Tiêu chí Vùng I Vùng II Vùng III Vùng IV
Chi phí thực phẩm (VNĐ) 4.542.427 4.229.743 4.166.452 3.738.991
Chi phí nhà ở (VNĐ) 3.327.957 2.802.261 2.656.967 2.190.231
Chi phí khác (VNĐ) 4.806.284 4.260.597 4.143.684 3.635.437
Chi phí phát sinh 5% (VNĐ) 633.845 564.591 548.303 478.233
Tổng chi phí gia đình (VNĐ) 13.310.752 11.856.420 11.514.359 10.042.808
Số người lao động/gia đình 1,76 1,76 1,76 1,76
Lương thực nhận cần thiết (VNĐ) 7.562.927 6.736.602 6.542.249 5.706.141
Tổng lương đủ sống cần thiết (VNĐ) 8.545.680 7.611.979 7.392.372 6.100.972

Như vậy, mức lương đủ sống tại Vùng I (8.545.680 đồng) cao gần gấp đôi mức lương tối thiểu vùng quy định tại Nghị định 38/2022/NĐ-CP (4.680.000 đồng).

  1. Hành vi xây dựng hai bảng lương nhằm né tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm: Nhiều doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ lập một bảng lương thực tế để chi trả cho NLĐ và một bảng lương ghi mức lương bằng đúng lương tối thiểu vùng để nộp cơ quan BHXH, làm sai lệch bản chất bảo trợ của pháp luật tiền lương và gây thất thoát quỹ an sinh xã hội.

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật lao động về lương tối thiểu

Chương 3 đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể:

Về yêu cầu xây dựng giải pháp: Giải pháp phải tương thích với Công ước số 131 của ILO mà Việt Nam đã phê chuẩn; đồng thời phải đánh giá toàn diện tác động ba chiều đối với NLĐ (thu nhập, an sinh xã hội), NSDLĐ (chi phí sản xuất, năng lực cạnh tranh) và nền kinh tế vĩ mô (lạm phát, an ninh trật tự, dòng vốn đầu tư).

Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:

  • Đổi mới căn bản phương pháp xác định mức sống tối thiểu: Chuyển đổi cách tính hiện nay (vốn đã lạc hậu, thiếu dự phòng rủi ro biến động kinh tế như đại dịch COVID-19 hay làn sóng cắt giảm việc làm năm 2023) sang phương pháp luận của Viện nghiên cứu Anker. Cơ cấu tính mức sống tối thiểu cần bao hàm: chi phí lương thực thực phẩm, chi phí nhà ở, chi phí ngoài lương thực - nhà ở, khoản dự phòng rủi ro 5%, chỉ số năng suất lao động, CPI, tỷ lệ thất nghiệp, khả năng chi trả của doanh nghiệp. Ngoài ra, cần bổ sung các chỉ số đo lường mức độ đáp ứng chi phí sinh hoạt thực tế và thống kê số lượng doanh nghiệp giải thể/ngừng hoạt động do áp lực tăng lương.

Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành:

  • Dự báo tác động kinh tế và kiện toàn Hội đồng Tiền lương Quốc gia: Mở rộng thành phần Hội đồng Tiền lương Quốc gia bằng việc bổ sung thêm chuyên gia cố vấn độc lập từ ILO để tăng tính khách quan, khoa học. Doanh nghiệp cần chủ động rà soát, ứng dụng công nghệ, số hóa để tinh giản quy trình, giảm chi phí trung gian thay vì áp dụng biện pháp cắt giảm nhân sự ngắn hạn.
  • Thúc đẩy đối thoại và thương lượng tập thể thực chất: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cần tăng cường nâng cao chất lượng hòa giải viên lao động và Hội đồng Trọng tài lao động; hỗ trợ tổ chức đại diện NSDLĐ tham gia sâu vào cơ chế ba bên; thúc đẩy NLĐ chủ động nâng cao tay nghề và kiến thức pháp luật để thương lượng mức lương cao hơn mức sàn tối thiểu.
  • Bình ổn giá cả và kiểm soát chi phí sinh hoạt: Nhà nước cần đẩy mạnh chính sách phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân tại các khu công nghiệp nhằm hạ nhiệt chi phí nhà ở; các bộ, ngành chức năng tăng cường quản lý giá các mặt hàng thiết yếu, bình ổn thị trường để ngăn chặn tình trạng tiểu thương tăng giá đón đầu mỗi kỳ điều chỉnh lương.
  • Tăng cường thanh tra, xử lý nghiêm tình trạng hai bảng lương: Đổi mới phương thức kiểm tra bằng hình thức tiếp nhận tin báo qua hòm thư tố giác; đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ thanh tra lao động; nâng mức phạt tiền và bổ sung chế tài xử lý nghiêm khắc đối với hành vi khai gian bảng lương để trốn đóng BHXH; phát huy quyền kiểm tra, giám sát của tổ chức Công đoàn cơ sở đối với các thang bảng lương và quy chế phụ cấp tại doanh nghiệp.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa bức tranh tiền lương tối thiểu tại Việt Nam từ giai đoạn 2007 đến năm 2023 thông qua các hệ thống số liệu chính thức:

  • Chứng minh khoảng cách chênh lệch giữa mức lương tối thiểu vùng theo Nghị định số 38/2022/NĐ-CP và mức lương đủ sống thực tế theo khảo sát Anker (lương đủ sống Vùng I là 8.545.680 đồng so với mức trần pháp lý 4.680.000 đồng).
  • Chỉ ra hệ số co giãn giữa việc tăng lương tối thiểu với tiền lương tháng (tăng 1% lương tối thiểu kéo theo tăng 0,83% lương tháng) và gánh nặng chi phí bảo hiểm 34% quỹ lương.
  • Phát hiện và phân tích cơ chế trục lợi qua hành vi thiết lập "hai bảng lương" của các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, so với các công trình nghiên cứu trước đây (chủ yếu phân tích giai đoạn trước khi Bộ luật Lao động năm 2019 có hiệu lực), khóa luận đã:

  • Đánh giá trực diện hiệu quả thi hành của Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định số 38/2022/NĐ-CP trong bối cảnh phục hồi kinh tế hậu đại dịch COVID-19 và biến động việc làm năm 2023.
  • Đề xuất mô hình tính mức sống tối thiểu tiệm cận chuẩn quốc tế Anker có bổ sung 5% chi phí dự phòng rủi ro và các chỉ số đo lường doanh nghiệp giải thể.
  • Đưa ra kiến nghị cụ thể về việc tái cấu trúc thành phần Hội đồng Tiền lương Quốc gia với sự tham gia của chuyên gia ILO và cơ chế gắn kết chính sách tiền lương với phát triển nhà ở xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tập trung nghiên cứu trong phạm vi chế định tiền lương tối thiểu áp dụng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động tại khu vực doanh nghiệp; chưa đi sâu phân tích chính sách tiền lương của khu vực công (cán bộ, công chức, viên chức) do sự khác biệt về nguồn ngân sách chi trả.

Dựa trên giới hạn nghiên cứu của đề tài, các hướng nghiên cứu mở rộng tiếp theo bao gồm:

  • Đánh giá tác động định lượng dài hạn của việc áp dụng mức lương tối thiểu theo giờ đối với nhóm lao động phi chính thức và lao động bán thời gian.
  • Khảo sát thực nghiệm diện rộng về mức độ thích ứng công nghệ và tái cấu trúc nhân sự của các doanh nghiệp thâm dụng lao động (dệt may, da giày) trước sức ép điều chỉnh lương tối thiểu định kỳ.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Lao động, Luật Kinh tế, Quản trị nhân lực và Quan hệ lao động khi tìm kiếm cơ sở lý thuyết, lịch sử lập pháp và phương pháp so sánh tiêu chuẩn quốc tế (ILO).
  • Cán bộ pháp chế doanh nghiệp, cán bộ quản lý nhân sự trong việc nắm bắt các quy định bắt buộc về mức lương tối thiểu theo tháng và theo giờ, căn cứ đóng BHXH, xây dựng thang bảng lương hợp pháp.
  • Cán bộ công đoàn và hòa giải viên lao động trong quá trình tư vấn, đối thoại, thương lượng tập thể tại cơ sở nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.

Nội dung nổi bật nhất để tham khảo là hệ thống bảng biểu so sánh chuỗi dữ liệu lương tối thiểu vùng từ năm 2007 đến 2022 và mô hình phân tích 9 tiêu chí tính toán mức lương đủ sống của Viện nghiên cứu Anker tại Chương 2 và Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm tiền lương tối thiểu trong Bộ luật Lao động năm 2019 có điểm gì mới so với các văn bản trước đây?
Điều 91 Bộ luật Lao động năm 2019 xác định mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho NLĐ làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ. Quy định mới xác lập lương tối thiểu theo vùng và được xác định theo tháng hoặc theo giờ, đồng thời chính thức bãi bỏ khái niệm "mức lương tối thiểu ngành" từng tồn tại trong Bộ luật Lao động năm 2012.

2. Mức lương tối thiểu vùng theo tháng và theo giờ được áp dụng từ ngày 01/7/2022 theo Nghị định 38/2022/NĐ-CP là bao nhiêu?
Mức lương tối thiểu theo tháng và theo giờ chia theo 4 vùng gồm: Vùng I (4.680.000 đồng/tháng; 22.500 đồng/giờ); Vùng II (4.160.000 đồng/tháng; 20.000 đồng/giờ); Vùng III (3.640.000 đồng/tháng; 17.500 đồng/giờ); Vùng IV (3.250.000 đồng/tháng; 15.600 đồng/giờ).

3. Báo cáo năm 2022 của Viện nghiên cứu Anker phản ánh mức độ chênh lệch giữa lương tối thiểu và lương đủ sống tại Việt Nam như thế nào?
Theo Viện Anker, mức tổng lương đủ sống cần thiết cho một người lao động (tính cả chi phí nuôi gia đình) tại Vùng I là 8.545.680 đồng/tháng, Vùng II là 7.611.979 đồng/tháng, Vùng III là 7.392.372 đồng/tháng và Vùng IV là 6.100.972 đồng/tháng. Như vậy, mức lương tối thiểu theo Nghị định 38/2022/NĐ-CP tại Vùng I chỉ đáp ứng được hơn 50% mức sống đủ sống thực tế.

4. Hành vi lập "hai bảng lương" của doanh nghiệp diễn ra như thế nào và gây ra hệ quả gì?
Nhiều doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ lập song song hai bảng lương: một bảng lương thực tế dùng để thanh toán thu nhập cho NLĐ và một bảng lương ghi mức đúng bằng lương tối thiểu vùng để nộp cho cơ quan BHXH nhằm giảm chi phí trích nộp bảo hiểm (tổng mức đóng 34%). Hành vi này làm giảm quyền lợi hưởng chế độ an sinh của NLĐ khi ốm đau, thai sản, hưu trí và làm méo mó bản chất chính sách tiền lương tối thiểu.

5. Tác giả đề xuất bổ sung những thành phần và tiêu chí nào vào quy trình xác định tiền lương tối thiểu?
Tác giả đề xuất mở rộng thành phần Hội đồng Tiền lương Quốc gia với sự tham gia của chuyên gia cố vấn từ ILO; đồng thời đổi mới cách tính mức sống tối thiểu bằng việc bổ sung khoản chi phí dự phòng rủi ro 5%, chỉ số đáp ứng chi phí sinh hoạt thực tế, mức tăng năng suất lao động xã hội và số lượng doanh nghiệp bị giải thể hoặc ngừng hoạt động do tác động của tăng lương tối thiểu.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và chuẩn mực quốc tế của ILO về chế định tiền lương tối thiểu, đồng thời phản ánh chân thực các bất cập trong thực tiễn áp dụng Nghị định số 38/2022/NĐ-CP tại Việt Nam như tình trạng lạm phát giá sinh hoạt, áp lực chi phí doanh nghiệp và hiện tượng lập hai bảng lương trốn đóng bảo hiểm. Công trình cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ, từ việc đổi mới phương pháp tính mức sống tối thiểu theo chuẩn Anker đến mở rộng thành phần Hội đồng Tiền lương Quốc gia và đẩy mạnh kiểm soát thị trường, nhà ở xã hội. Đây là tài liệu nghiên cứu chuyên khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao cho công tác hoàn thiện pháp luật lao động và quản trị quan hệ lao động tại Việt Nam.