Chương 1: Những giai đoạn văn hóa tiền sử Ăngghen viết về lịch sử loài người phát triển qua các giai đoạn từ thấp đến cao từ thời đại mông muội, thời đại dã man đến thời đại văn minh và sự phát triển ấy nó luôn gắn liền với sự phát triển của trình độ lao động sản xuất. Ăngghen đã giới thiệu sự sắp xếp thời kỳ tiền sử của loài người theo hệ thống của Moóc gan, qua đó nó đã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh của xã hội loài người đồng thời chỉ ra những hạn chế của Moóc gan trong cách phân kỳ này. Chỉ ra nguồn gốc phát triển của xã hội loài người là do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của lao động, đây là nhân tố quyết định nhất. Chương 2: Gia đình Ăngghen viết về quá trình hình thành và phát triển của gia đình trong lịch sử.
Trong chương này, Ăngghen đã làm rõ thời kỳ thơ ấu của loài người, giải thích một thời kỳ lịch sử mà trước đó chưa lý giải được thông qua nghiên cứu lịch sử phát triển của các hình thức gia đình theo công trình nghiên cứu của Moóc gan từ gia đình huyết tộc, gia đình Ru-na-lu-an, gia đình cặp đôi, gia đình một vợ một chồng. Trong đó gia đình huyết tộc đó là giai đoạn đầu của gia đình ở đây các tập đoàn hôn nhân đều phân theo thế hệ: trong phạm vi gia đình tất cả ông và bà đều là vợ chồng với nhau, các con họ cũng đều là vợ chồng với nhau, các con của những người này cũng hợp thành một nhóm vợ chồng chung thứ 3. Gia đình Ru-na-lu-an đây là bước tiến thứ hai của sự phát triển gia đình. ở gia đình này đã hủy bỏ quan hệ tình dục giữa anh em trai và chị em gái cùng 1 mẹ đẻ ra và sau là cấm những cuộc hôn nhân gồm những anh em trai và chị em gái trong các bàng hệ.
Gia đình cặp đôi, một loại hình thức kết hôn từng cặp đã tồn tại trong một thời gian hoặc ngắn hoặc dài dưới chế độ quần hôn và sau cùng là gia đình 1 vợ 1 chồng nó được nảy sinh từ gia đình cặp đôi, nó là một trong những dấu hiệu của buổi đầu của thời đại văn minh. Gia đình ấy dựa trên quyền thống trị của người chống, những đứa con sinh ra có cha đẻ rõ ràng và nó được thừa hưởng tài sản của cha với tư cách là người kế thừa trực tiếp. Chương 3: Thị tộc Iroqua. Ăngghen viết về thị tộc điển hình sống ở châu Mỹ theo lối sống cổ đại.
Chương 4: Thị tộc Hy Lạp mà chế độ mẫu quyền đã nhường chỗ cho chế độ phụ quyền. Trong hai chương 3 và chương 4, Ăngghen đã mô tả tổ chức xã hội trước khi có nhà nước, mô tả sự ra đời, nguồn gốc của chế độ sở hữu tư nhân và của giai cấp nhân tố làm tan rã chế độ thị tộc. Từ những phân tích về quá trình phát triển kinh tế - xã hội do sự phát triển của lực lượng sản xuất làm nảy sinh chế độ tư hữu và giai cấp, Ăngghen đi tới khẳng định nhà nước nhất định phải xuất hiện như một tất yếu lịch sử, như một quá trình tự nhiên và vạch rõ bản chất giai cấp của nhà nước. Khẳng định nhà nước là một hình thức của giai cấp thống trị, bảo vệ quyền lợi của giai cấp cầm quyền.
Chương 5: Sự ra đời của nhà nước A-ten và chương 6: Thị tộc và nhà nước ở La Mã, Ăngghen đã phân tích về mặt lịch sử những biến đổi về xã hội trong xã hội thị tộc dẫn tới sự hình thành và phát triển của nhà nước A-ten và Nhà nước La Mã, phân tích hai phương thức hình thành nhà nước khác nhau. Nhà nước A-ten nảy sinh chủ yếu và trực tiếp từ những sự đối lập giai cấp ngay trong nội bộ xã hội thị tộc, một hình thức ra đời nhà nước thuần túy nhất, cổ điển nhất thì Nhà nước La Mã là kết quả của cuộc đấu tranh gay gắt giữa những người bình dân sống ngoài thị tộc La Mã với những người quý tộc La Mã. Tuy có sự khác nhau về phương thức hình thành nhà nước song Ăngghen vạch rõ nguyên nhân chính làm cho xã hội nguyên thủy sụp đổ chính là sự xuất hiện và phát triển những mâu thuẫn về kinh tế - xã hội. Chương 7: Thị tộc của người Kentơ và người Giec-manh.
Chương 8: Sự hình thành nhà nước của người Giec-manh, Ăngghen giới thiệu đây là sự ra đời của nhà nước trong trường hợp đặc biệt, không phải là kết quả trực tiếp của những biến đổi kinh tế - xã hội mà là kết quả của hành động bạo lực. Song suy cho cùng thì sự xuất hiện nhà nước này vẫn xuất hiện từ nguồn gốc sâu xa, tất yếu từ sự biến đổi của kinh tế xã hội. Chương 9: Thời đại dã man và thời đại văn minh. Ăngghen tổng hợp lại và chỉ rõ quá trình phát triển của loài người từ thời đại dã man sang thời đại văn minh trên cơ sở phát triển của sản xuất, của sự phát triển kinh tế - xã hội và Ăngghen cũng chỉ ra những đặc trưng của thời đại văn minh và khẳng định tính tất yếu trong sự phát triển của lịch sử là ở chỗ xã hội hiện đại phải được thay thế bằng chế độ mới mà ở đó không còn chế độ tư hữu, không còn giai cấp và nhà nước sẽ tự tiêu vong và mọi người sống trong bình đẳng - tự do và hạnh phúc thực sự.
Những nội dung chủ yếu của tác phẩm Một là: Quan điểm lý luận về gia đình, hôn nhân và tình yêu nam nữ Khi viết về gia đình, về hôn nhân và tình yêu nam nữ, trong tác phẩm nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Ph.Ăngghen tán thành quan điểm của L.Moóc gan cho rằng gia đình là yếu tố năng động, không bao giờ đứng nguyên tại chỗ mà nó luôn vận động và phát triển của xã hội. Những điều kiện kinh tế xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định có tác dụng quyết định đến hình thức tổ chức và kết cấu của gia đình. "Chế độ gia đình hoàn toàn bị quan hệ sở hữu chi phối" [C.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1995, tr. Ngược lại gia đình và trình độ phát triển của gia đình cũng có tác động rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến việc tái tạo ra bản thân con người, truyền thống để bảo vệ nòi giống cũng như tái tạo ra sức lao động của sản xuất xã hội.
Trong lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất năm 1884, Ph.Ăngghen cho rằng: "Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, suy đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại. Một mặt`, là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống. Những trật tự xã hội, trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất quyết định: một mặt là do trình độpt của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình" [C.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.
Với chức năng tái tạo con người, gia đình tham gia vào cả hai loại sản xuất của xã hội góp phần quyết định tồn tại và phát triển của xã hội loài người nói chung cũng như ảnh hưởng rất quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của một chế độ xã hội nhất định: Ph. Ăngghen đã vạch rõ nguồn gốc phát triển của các hình thức gia đình trong lịch sử là do sự tác động của quy luật đào thải tự nhiên và do sự phát triển của những điều kiện kinh tế - xã hội, sự phát triển của tâm lý, đạo đức, tình cảm của con người. Trong đó sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội là yếu tố quyết định. Do đó gia đình đã chuyển từ gia đình huyết tộc (gia đình cùng dòng máu) sang gia đình Pu na lu an, gia đình cặp đôi (gia đình đối ngẫu) và cuối cùng là gia đình 1 vợ, 1 chồng.
Gia đình quần hôn là hình thức đầu tiên trong lịch sử nó bắt nguồn từ chế độ quần hôn với hai loại gia đình tương ứng là gia đình huyết tộc và gia đình Pu na lu an. Gia đình huyết tộc đó là giai đoạn đầu của gia đình, ở đây các tập đoàn hôn nhân đều phân theo thế hệ trong phạm vi gia đình, tất cả ông và bà đều là vợ chồng với nhau, các con của họ cũng đều là vợ chồng với nhau, rồi đến lượt conc ái của những người này cũng hợp thành nhóm vợ chồng chung thứ ba. Cứ như vậy trong hình thức gia đình này chỉ có giữa những tổ tiên và con cháu, giữa cha mẹ và con cái không là vợ chồng với nhau còn các anh em tria, chị em gái ruột, anh em và chị em họ bậc thứ nhất, bậc thứ 2 và những bậc khác nữa đều là anh em, chị em với nhau và chính vì thế họ đều là vợ chồng của nhau. Gia đình Pu-na-lu-an là hình thức gia đình dựa trên cơ sở tiến bộ hơn, đó là anh chị em ruột không lấy nhau.
Theo Moóc gan bước tiến đó là "Một sự minh hoạ rất tốt về tác động của nguyên tắc đào thải tự nhiên" [Sđd, tr. Như vậy từ hình thức mà Moóc gan gọi là gia đình Pu nu lu an tức là chị em gái ở bậc thứ nhất, thứ hai và những bậc khác đều là vợ chung của những người chồng chung trừ những anh em trai của họ ra, những người chồng đó không gọi nhau là anh em nữa mà gọi nhau là "Pu na lu a" nghĩa là bạn thân. Cũng như thế thì những anh em trai cùng mẹ hoặc xa hơn đều lấy chung một số vợ không phải là chị em gái của họ và những người vợ ấy cũng đều gọi nhau là Pu na lu a. Tuy hình thức quần hôn này không thể xác định được ai là cha đứa trẻ mà chỉ xác định được mẹ của đứa trẻ mà thôi.