CHƯƠNG 1: ĐẶC TRƯNG, CHỨC NĂNG, TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1. Đặc trưng của việc xây dựng Nhà nước XHCN a. Về chính trị: Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc Nhà nước XHCN mang bản chất của giai cấp công nhân. Đây là giai cấp có lợi ích phù hợp với lợi ích của quần chúng nhân dân lao động, vì vậy Nhà nước XHCN đại diện cho ý chí chung của nhân dân lao động.
Điều này được thể hiện qua việc giai cấp công nhân thuộc nhân dân lao động, họ có chung lợi ích với toàn thể dân tộc và nhân dân lao động và là đại biểu phương thức sản xuất mới, hiện đại. Nhà nước XHCN là công cụ để thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản. Tuy nhiên sự thống trị này có sự khác biệt về chất so với sự thống trị của các giai cấp bóc lột trước đây khi giai cấp bóc lột là thiểu số đối với tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội và một trong những mục đích của việc thống là bảo vệ và duy trì địa vị của mình. Đây là sự thống trị của đa số với thiểu số giai cấp bóc lột nhằm thực hiện giải phóng các tầng lớp lao động.
Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước thể hiện ở nguyên tắc tổ chức và nguyên tắc tập trung dân chủ. Cụ thể, nhấn mạnh đến sự cần thiết phải phát huy cao độ dân chủ, đồng thời cũng nhấn mạnh phải phát huy cao độ tập trung, Nhà nước phải tập trung thống nhất quyền lực để tất cả mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Nhà nước XHCN do Đảng Cộng sản lãnh đạo về mọi mặt và nhân dân lao động thực hiện quyền lực, lợi ích của mình trên mọi mặt của xã hội và tham gia nhiều vào công việc của Nhà nước. Những đặc điểm này cùng với cơ cấu tham chính, sự có mặt rộng rãi của mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội, từ nông dân, công nhân, trí thức, không phân biệt nguồn gốc, miễn là thành thật hợp tác, vì quyền lợi của dân tộc là những biểu hiện cụ thể của tính nhân dân rộng rãi.
Nhà nước XHCN thể hiện ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, là công cụ chủ yếu để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, thể hiện tính tự giác, tự quản của nhân dân rất cao. Về tính dân tộc sâu sắc được thể hiện trong việc kế thừa và phát huy những truyền thống, bản sắc tốt đẹp của dân tộc. Có chính sách dân tộc đúng đắn, chăm lo lợi ích mọi mặt của các dân tộc và thực hiện đại đoàn kết dân tộc. 8 Bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc.
Tính thống nhất này được đảm bảo bởi cơ sở khách quan "quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của cả dân tộc là một". Dân tộc, nhân dân và giai cấp công nhân có lợi ích chung và vì vậy giải phóng dân tộc là cách duy nhất để giải phóng được giai cấp công nhân một cách triệt để. Mà giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức về kinh tế và nô dịch về tinh thần, bảo đảm sự phát triển toàn diện cá nhân, hình thành và phát triển lối sống XHCN, làm cho mọi người phát huy tính tích cực của mình trong công cuộc xây dựng Nhà nước XHCN là mục tiêu cao nhất của Nhà nước XHCN. Thực hiện được sự công bằng, bình đẳng xóa bỏ được sự đối kháng giai cấp áp bức dân tộc là kết quả của việc xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư bản chủ nghĩa.
Về kinh tế: Nhà nước được quy định dựa trên cơ sở kinh tế của XHCN Dựa trên cơ sở kinh tế của xã hội XHCN, kinh tế của Nhà nước XHCN cũng có những đặc điểm tương ứng. Trong đó, kinh tế của Nhà nước XHCN chính là chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất chủ yếu. Đồng nghĩa với việc nền kinh tế không còn tồn tại quan hệ sản xuất bóc lột như trong quá khứ. Vậy, “chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất” là gì? Đầu tiên, về khái niệm “chế độ sở hữu XHCN” là chế độ sở hữu gồm tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về sở hữu XHCN về các tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, các phương tiện và sản phẩm khác.
Tức là, chế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất là một khía cạnh mà khái niệm “chế độ sở hữu XHCN” đã thể hiện. Một cách cụ thể hơn, chế độ sở hữu XHCN là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất - cơ sở của quan hệ sản xuất XHCN. Về quan hệ sản xuất, yếu tố quan trọng hàng đầu không thể không nói đến là chế độ sở hữu. Nhằm thỏa mãn những nhu cầu về vật chất và tinh thần ngày càng cao của toàn thể nhân dân lao động, nền dân chủ XHCN bao gồm những tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội đang ngày càng hiện đại, phong phú và phát triển hơn.
Dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ hiện đại, nền dân chủ XHCN ấy đã đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất. 9 Việc xác định chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu thể hiện tính ưu việt của CNXH mà chúng ta đang xây dựng trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Việc xác định chế độ công hữu này đã khắc phục được tư duy cũ cũng như những giáo điều về CNXH ở Việt Nam. Điều đó đồng nghĩa với sự duy nhất của chế độ công hữu ngay trong thời kỳ quá độ).
Chế độ sở hữu XHCN bao gồm 2 hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu toàn dân (sở hữu Nhà nước ) và sở hữu tập thể - nền tảng của nền kinh tế XHCN. Bản chất kinh tế đó - tức chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chỉ được bộc lộ đầy đủ qua toàn bộ quá trình bao gồm ổn định chính trị đi đôi với phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của toàn xã hội. Để bản chất kinh tế được bộ lộ một cách đầy đủ như vậy không thể không nhắc đến sự lãnh đạo của Đảng Mác - Lênin cũng như công tác của Nhà nước XHCN về quản lý, hướng dẫn, giúp đỡ. Trước hết nếu như Nhà nước ta thực sự muốn đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân về các tư liệu sản xuất chủ yếu hay quyền làm chủ trong quá trình sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối thì phải coi lợi ích kinh tế của người lao động là động lực cơ bản nhất có sức thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội.
Bỏ qua điều này sẽ khiến quá trình phát triển về kinh tế của Nhà nước theo con đường XHCN gặp phải những vấn đề phát sinh không mong muốn, cũng như phá vỡ quy luật về bản chất kinh tế của Nhà nước XHCN nói riêng và toàn thể xã hội XHCN nói chung. Vốn dĩ định hướng quá độ lên thời kỳ XHCN đã rất khó khăn và thách thức, liệu nếu như tiếp tục đưa ra những hướng đi, hướng hành động khác thì con đường này có thực sự hiệu quả hay không? Đây chính là điều mà chúng ta nên cân nhắc. Đảng ta đã khẳng định quan điểm sau khi bàn về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu nhiều thành phần kinh tế: Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. “Kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”.
Với đặc trưng trong quan hệ sản xuất của CNXH mà chúng ta đang xây dựng, quan điểm này hoàn toàn nhất quán và là nền tảng xác lập từng bước chế độ công hữu. 10 Một trong những yếu tố đảm bảo định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chính là phải dựa trên chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Đối với những nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, V.Lênin đã từng chỉ rõ hai điều rằng: Thứ nhất, nếu đất nước ấy chưa trải qua chủ nghĩa tư bản, để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động tất yếu phải “bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc xuyên qua chủ nghĩa tư bản Nhà nước , tiến lên chủ nghĩa xã hội” (V.Lênin, toàn tập, Nxb.684), dưới chính quyền Xô viết thì chủ nghĩa tư bản Nhà nước sẽ có thể là 3⁄4 chủ nghĩa xã hội. Thứ hai, những nước chưa trải qua chủ nghĩa tư bản đi lên chủ nghĩa xã hội cần thiết phải học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển theo cách thức: “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt của nước ngoài”.
Tất cả các “cái tốt” kia lấy từ chính quyền Xô viết, từ Phổ (Pháp), từ Mỹ,. và kết hợp lại thành chủ nghĩa xã hội - tinh hoa, tinh túy của chế độ XHCN, là bài học quý giá cho các dân tộc đang có nguyện vọng tiến tới Nhà nước XHCN hoặc đang và chuẩn bị đi cho quá trình quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980 với mục đích cơ bản của chính sách kinh tế của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là "phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội" (Điều 9 Hiến pháp năm 1959). Để thực hiện chính sách lớn của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn này là: Cải tạo XHCN, thực hiện chủ trương xóa bỏ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, tiến hành công hữu hoá tư liệu sản xuất dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, xóa bỏ hoàn toàn việc người bóc lột người thông qua các quan hệ tư hữu,.
Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản pháp luật để thực hiện mục tiêu trên. Có thể kể đến một số văn bản như: - Quyết định số 188/CP về chính sách xoá bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột thực dân, phong kiến ở miền Nam Việt Nam - Nghị định số 111/CP ngày 14/4/1977 về chính sách quản lí và cải tạo XHCN đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị các tỉnh phía Nam.