Sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân - CNXHKH Đại học Công nghiệp Hà Nội

Dưới đây là các meta tags cho bài viết "Giáo trình cnxhkh đại học công nghiệp hà nội" theo yêu cầu: { "ai_description": "Giáo trình Cnxhkh Đại học Công

Trường đại học

Đại học Công nghiệp Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
77
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giáo trình CNXHKH Đại học Công nghiệp Hà Nội

Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (CNXHKH) tại Đại học Công nghiệp Hà Nội cung cấp hệ thống kiến thức lý luận về sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và cộng sản chủ nghĩa. Tài liệu được biên soạn dựa trên quan điểm Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp chương trình đào tạo đại học ngành Chính trị học, Quản trị học và các ngành liên quan. Giáo trình nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Nội dung bao gồm ba chương chính: sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và cộng đồng tộc người - nền tảng xã hội chủ nghĩa. Giáo trình được áp dụng rộng rãi trong giảng dạy và nghiên cứu tại các trường đại học khối kỹ thuật trên toàn quốc.

1.1. Mục tiêu đào tạo và cấu trúc nội dung

Giáo trình nhằm trang bị cho sinh viên kiến thức chuyên sâu về lý luận CNXHKH, giúp sinh viên hiểu rõ sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cấu trúc giáo trình gồm 8 chương, tập trung vào ba trọng tâm: khái niệm giai cấp công nhân, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nội dung được xây dựng theo hướng ứng dụng, kết hợp lý luận với thực tiễn thông qua các ví dụ từ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Giáo trình cũng đề cập đến vai trò của khoa học công nghệ trong quá trình chuyển đổi xã hội chủ nghĩa.

1.2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của giáo trình là giai cấp công nhân Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phương pháp nghiên cứu kết hợp phân tích tài liệu lý luận, khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp công nghiệp và tổng kết kinh nghiệm quốc tế. Giáo trình sử dụng phương pháp tiếp cận lịch sử, phân tích hệ thống và so sánh để làm rõ bản chất, vai trò và sứ mệnh của giai cấp công nhân. Nội dung được trình bày dưới dạng hệ thống lý luận, có tính kế thừa và phát triển từ các giáo trình trước.

II. Phân tích sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân trong CNXHKH

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được xác định là phạm trù cơ bản nhất trong chủ nghĩa xã hội khoa học. Đây là lực lượng xã hội có nhiệm vụ xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Giai cấp công nhân là sản phẩm trực tiếp của nền đại công nghiệp, sở hữu trình độ xã hội hóa sản xuất cao nhất. Khái niệm giai cấp công nhân trong CNXHKH bao gồm cả công nhân lao động trực tiếp và gián tiếp, những người vận hành máy móc hiện đại và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Sứ mệnh lịch sử này xuất phát từ vị trí kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân, vốn là giai cấp tiên tiến nhất trong lực lượng sản xuất. Tại Đại học Công nghiệp Hà Nội, nội dung này được giảng dạy thông qua phân tích vai trò của giai cấp công nhân trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2.1. Khái niệm và đặc trưng giai cấp công nhân

Giai cấp công nhân được định nghĩa là giai cấp sở hữu phương tiện sản xuất xã hội hóa, có trình độ chuyên môn và ý thức tổ chức cao. Đặc trưng cơ bản nhất là lao động bằng phương thức công nghiệp hiện đại, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất vật chất. Tại Việt Nam, giai cấp công nhân bao gồm công nhân trực tiếp vận hành máy móc trong nhà máy, công nhân gián tiếp như kỹ sư, cán bộ quản lý và cả công nhân trong lĩnh vực dịch vụ công nghiệp. Giáo trình CNXHKH tại Đại học Công nghiệp Hà Nội nhấn mạnh giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

2.2. Vai trò trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa

Giai cấp công nhân đóng vai trò lãnh đạo trong cuộc đấu tranh xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Vai trò này thể hiện ở khả năng tổ chức sản xuất xã hội hóa, ứng dụng khoa học công nghệ và lãnh đạo quần chúng nhân dân. Tại Việt Nam, giai cấp công nhân là lực lượng nòng cốt trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Giáo trình phân tích vai trò này thông qua nghiên cứu sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, giai đoạn xây dựng nền tảng vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.

III. Giải pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội dựa trên lực lượng công nhân

Xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thông qua việc nâng cao trình độ chuyên môn, ý thức chính trị và khả năng tổ chức sản xuất. Giải pháp đầu tiên là đào tạo nguồn nhân lực công nhân có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tại Đại học Công nghiệp Hà Nội, chương trình đào tạo kết hợp lý luận CNXHKH với thực hành kỹ thuật, giúp sinh viên nắm vững vai trò giai cấp công nhân trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Giải pháp thứ hai là tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Giải pháp thứ ba là phát triển lực lượng sản xuất tiên tiến, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động.

3.1. Nâng cao trình độ công nhân và vai trò Đảng Cộng sản

Nâng cao trình độ công nhân thông qua đào tạo nghề, bồi dưỡng lý luận chính trị và ứng dụng khoa học công nghệ. Đảng Cộng sản đóng vai trò lãnh đạo thông qua việc xây dựng đường lối, chính sách phù hợp với giai cấp công nhân. Tại Việt Nam, Đảng đã đề ra chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó giai cấp công nhân là lực lượng nòng cốt. Giáo trình CNXHKH tại Đại học Công nghiệp Hà Nội nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

3.2. Phát triển lực lượng sản xuất và ứng dụng khoa học công nghệ

Phát triển lực lượng sản xuất tiên tiến thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cấp trang thiết bị công nghiệp. Ứng dụng khoa học công nghệ giúp tăng năng suất lao động, cải thiện chất lượng sản phẩm. Tại các trường đại học kỹ thuật, sinh viên được đào tạo về công nghệ mới, chuẩn bị cho vai trò lãnh đạo giai cấp công nhân trong tương lai. Giáo trình CNXHKH kết hợp phân tích vai trò khoa học công nghệ trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhấn mạnh tầm quan trọng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

IV. Kết luận và ứng dụng giáo trình CNXHKH trong thực tiễn

Giáo trình CNXHKH tại Đại học Công nghiệp Hà Nội cung cấp hệ thống lý luận về sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kết luận quan trọng nhất là giai cấp công nhân Việt Nam cần được đào tạo, nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Giáo trình cũng nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ứng dụng thực tiễn bao gồm đào tạo sinh viên nắm vững lý luận, tham gia nghiên cứu khoa học và ứng dụng vào sản xuất. Tại các trường đại học kỹ thuật, giáo trình được sử dụng làm tài liệu giảng dạy chính thức, góp phần nâng cao nhận thức chính trị cho sinh viên.

4.1. Đánh giá hiệu quả đào tạo và nghiên cứu

Hiệu quả đào tạo giáo trình CNXHKH được đánh giá thông qua kết quả học tập của sinh viên, khả năng ứng dụng lý luận vào thực tiễn. Tại Đại học Công nghiệp Hà Nội, sinh viên sau khi học giáo trình có khả năng phân tích vai trò giai cấp công nhân, đề xuất giải pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Giáo trình cũng được sử dụng trong nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Kết quả khảo sát cho thấy đa số sinh viên hiểu rõ sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của Đảng.

4.2. Định hướng phát triển giáo trình trong tương lai

Trong tương lai, giáo trình CNXHKH tại Đại học Công nghiệp Hà Nội sẽ được cập nhật với những nội dung mới về công nghiệp 4.0, kinh tế tri thức. Định hướng phát triển bao gồm tích hợp công nghệ số vào giảng dạy, nâng cao chất lượng tài liệu tham khảo. Giáo trình cũng sẽ mở rộng đối tượng đào tạo, bao gồm cả cán bộ quản lý, kỹ sư trong lĩnh vực công nghiệp. Mục tiêu là xây dựng giáo trình hiện đại, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

31/05/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 8 SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 8. SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội khoa học. Việc phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một trong những cống hiến vĩ đại của C. Học thuyết Mác đã tìm ra lực lượng xã hội để thực hiện việc xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, tiến hành xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Khái niệm giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân 8. Khái niệm giai cấp công nhân Trong các tác phẩm của mình, Mác-Ăngghen đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ giai cấp công nhân như: giai cấp vô sản; giai cấp vô sản hiện đại; giai cấp công nhân hiện đại… Sở dĩ có hiện tượng này vì khi nghiên cứu giai cấp công nhân, Mác - Ăngghen đã tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Do vậy, về thực chất đó là “những cụm từ đồng nghĩa” để chỉ giai cấp công nhân - con đẻ của nền đại công nghiệp TBCN, giai cấp đại diện cho LLSX tiên tiến, cho PTSX hiện đại. Ngoài ra, các ông còn dùng những thuật ngữ có nội dung hẹp hơn để chỉ công nhân trong các ngành sản xuất khác nhau, trong những giai đoạn phát triển khác nhau của công nghiệp như: công nhân khoáng sản, công nhân công trường thủ công, công nhân công xưởng, công nhân nông nghiệp… Dù diễn đạt bằng những thuật ngữ khác nhau, song giai cấp công nhân được các nhà kinh điển xác định trên hai phương diện cơ bản: kinh tế - xã hội và chính trị - xã hội Thứ nhất: Về phương diện kinh tế - xã hội: giai cấp công nhân là sản phẩm và là chủ thể của nền sản xuất đại công nghiệp; là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp hiện đại và có trình độ xã hội hoá ngày càng cao; Lao động bằng phương thức công nghiệp ngày càng hiện đại; 1 Xét ở phương diện này chúng ta thấy: Công nhân lao động trực tiếp: Là những người trực tiếp vận hành, điều khiển các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp, điều khiển máy móc trong các nhà máy, xí nghiệp ví dụ như: công nhân may trong các xí nghiệp may mặc, công nhân làm việc tại nhà máy lắp ráp ô tô ở EU … Công nhân lao động gián tiếp: Là những người quản lý quá trình lao động công nghiệp trong các công xưởng, những nhà nghiên cứu, sáng chế, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, các kỹ sư, các kỹ thuật viên cao cấp, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý trực tiếp lao động hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất công nghiệp, sản xuất và tái sản xuất ra của cải vật chất; những người tham gia vào quá trình sản xuất công nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ: tiếp thị, bán sản phẩm công nghiệp…) Đây là đặc trưng cơ bản nhất để phân biệt giai cấp công nhân với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội; mô tả quá trình phát triển của GCCN, Mác và Ăngghen chỉ rõ: “Trong công trường thủ công và trong nghề nghiệp thủ công, người công nhân sử dụng công cụ của mình, còn trong công xưởng thì người công nhân phải phục vụ máy móc”.

Giai cấp công nhân có một quá trình phát triển từ những người thợ thủ công thời kỳ trung cổ đến những người thợ trong công trường thủ công và cuối cùng đến những người công nhân trong công nghiệp hiện đại. - Công nhân lao động bằng phương thức công nghiệp ngày càng hiện đại với những đặc điểm nổi bật như: sản xuất bằng máy móc, lao động có tính chất xã hội hóa, năng suất lao động cao và tạo ra những tiền đề của cải vật chất cho xã hội mới. Yêu cầu của sản xuất công nghiệp đòi hỏi phải ứng dụng nhanh những thành tựu của khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào quá trình sản xuất, làm cho trình độ của công cụ sản xuất ngày càng hiện đại và tất yếu thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mang trình độ xã hội hoá ngày càng cao. Trình độ xã hội hoá của lực lượng sản xuất được thể hiện chủ yếu ở sự hoàn thiện công cụ lao động, ở quy mô của sản xuất, của năng suất lao động xã hội và ở trình độ phân công lao động xã hội mang tính quốc tế hoá và toàn cầu hoá… Ví dụ: Ngày nay, một chiếc máy bay Boeng 747 được lắp ráp bằng 4,5 triệu linh kiện, được sản xuất bởi 11.000 xí nghiệp lớn và 15.000 xí nghiệp nhỏ ở 6 nước khác.

Trình độ xã hội hoá còn được thể hiện ngay trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa 2 với việc hình thành các tập đoàn tư bản lớn chi phối thế giới; các tổ chức quốc tế và khu vực… Hiện nay, trong bối cảnh cách mạng khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức có những bước tiến dài. Khoa học đạt được nhiều thành tựu, đổi mới công nghệ với chu kỳ ngắn và nhanh; cùng với cạnh tranh khốc liệt trên thị trường thế giới đã khiến cho lực lượng sản xuất, sức lao động của công nhân phải thường xuyên trí tuệ hóa, tri thức hóa. Năng suất lao động phụ thuộc chủ yếu vào công nghệ, tri thức, tay nghề của người lao động. Sản xuất và dịch vụ hiện đại đòi hỏi người lao động phải có hiểu biết sâu rộng cả về tri thức và kỹ năng nghề nghiệp.

Theo đó, tốc độ “trí thức hóa” công nhân đang diễn ra khá nhanh và công nhân tri thức đã dần chiếm tỷ lệ cao - tới 40% trong tổng số lao động xã hội ở các nước phát triển. Trình độ phát triển kinh tế, trình độ công nghệ thường tỷ lệ thuận với năng suất lao động đạt được. Công nhân của các nước phát triển có năng suất lao động cao hơn so với các nước đang phát triển. Năm 2017, ILO xếp hạng năng suất lao động thông qua so sánh việc tạo ra giá trị mới của 1 lao động/năm ở một số nước phát triển: Công nhân Mỹ tạo ra 63.885USD/người/năm; công nhân Ai-len là 55.986USD/người/năm; công nhân Bỉ là 55.235 USD/người/năm; công nhân Pháp là 54.609USD/người/năm.

(Nguồn: Năm xu hướng biến động của GCCN trên thế giới hiện nay, tạp chí điện tử của Hội đồng lý luận trung ương) Mặt khác, hiện nay ở một số nước tư bản phát triển, một bộ phận công nhân tham gia vào quá trình sản xuất công nghiệp hiện đại nhưng không đến công xưởng, mà làm việc tại nhà và tham gia vào quá trình “xuất khẩu” lao động tại chỗ. Ví dụ: Ở Mỹ và Nhật Bản, hơn 20% công nhân làm việc tại nhà với công cụ lao động hiện đại. Họ là nhóm lao động có trình độ cao và có khả năng đáp ứng đúng các yêu cầu về chủng loại, mẫu mã và chất lượng theo đơn đặt hàng.000 tờ khai thuế tại Mỹ được làm ở ấn Độ. Năm 2004, con số này là 100.

Năm 2005, con số trên là khoảng 400. Trong một thập niên tới, có thể dự đoán rằng tất cả các khâu cơ bản của tờ khai thuế tại Mỹ sẽ thuê làm ở bên ngoài” (Theo Thomas L. Friedman, “Thế giới phẳng” – Nhà xuất bản Trẻ, 2006, tr.30) Đây là một biểu hiện mới của phương thức thuê mướn nhân công và tổ chức lại lao động theo hướng tinh giản và hiệu quả của chủ nghĩa tư bản. Nó cũng cho thấy 3 trình độ bóc lột lao động làm thuê của chủ nghĩa tư bản ngày càng tinh vi hơn nhằm biến tất cả lao động của thế giới thành người làm thuê cho tư bản.

Điều đó chứng tỏ trình độ tri thức không làm thay đổi bản chất của giai cấp công nhân trong chủ nghĩa tư bản, họ vẫn là những người làm thuê cho giai cấp tư sản. Ngoài xu hướng tri thức hóa, GCCN còn có xu hướng toàn cầu với các biểu hiện như: dòng lao động và sức lao động có thể dịch chuyển đến nhiều quốc gia; đào tạo công nhân ngày càng được chuẩn mực hóa theo các tiêu chuẩn chung (chẳng hạn ISO); nhà sử dụng lao động lớn nhất thế giới hiện nay là các công ty xuyên quốc gia - TNC “với các tiêu chuẩn sản xuất và điều kiện làm việc của công nhân giống hệt nhau.” Matt Vidal (2018) nhận xét: “Ngày nay, 170 năm sau khi xuất bản Tuyên ngôn, nhà máy Volkswagen Wolfsburg ở Đức đã có hơn 73.000 và khu phức hợp Foxconn 1,4 dặm vuông (2 km2) ở Long Hoa, Thâm Quyến, sản xuất các sản phẩm của Apple có khoảng 400. Trong khi đó, các tập đoàn lớn trong lĩnh vực dịch vụ tuyển dụng đến hàng trăm nghìn công nhân (McDonald’s, Amazon, Tesco), đôi khi hơn một triệu công nhân (Walmart) trong điều kiện làm việc giống hệt nhau.”[ Matt Vidal (2018), “Phải chăng Mác đã sai lầm về giai cấp công nhân? Xem xét lại luận điểm người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản”, International Socialism, 158, Tài liệu dịch, tr. Thứ hai: Phương diện chính trị - xã hội: -Từ lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản, GCCN còn là sản phẩm xã hội của quá trình phát triển TBCN , một xã hội có “điều kiện tồn tại dựa trên cơ sở chế độ làm thuê”.

Trong QHSX TBCN, giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê vì mất các TLSX của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống. - Mác và Ăgghen chỉ rõ, đó là giai cấp của những người lao động không có sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, mà tư liệu sản xuất của xã hội về cơ bản do giai cấp tư sản nắm giữ và chi phối. Nhưng để duy trì cuộc sống của mình và gia đình, giai cấp công nhân buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị bóc lột giá trị thặng dư. SLĐ của người công nhân đã trở thành một thứ hàng hóa đặc biệt có đặc điểm là sản sinh ra GTTD -> làm giàu cho nhà TB.

4 -Đối diện với nhà TB, công nhân là những người lao động tự do với nghĩa là tự do bán sức lao động của mình để kiếm sống. Chính điều này khiến cho GCCN trở thành giai cấp đối kháng với giai cấp tư sản. SLĐ của người công nhân là hàng hóa, vì thế, họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ