Luận văn Thạc sĩ Triết học: Liên minh công nhân, nông dân, trí thức ở Thanh Hóa hiện nay

Phân tích chuyên sâu về liên minh công nhân, nông dân và trí thức dưới góc nhìn triết học tại Thanh Hóa. Khám phá vai trò của liên minh này trong phát triển xã

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
110
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về liên minh công nông trí thức tại Thanh Hóa

Liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là nền tảng cách mạng của Việt Nam. Quan điểm này bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác-Lênin. Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể. Tại Đại hội XI, Đảng khẳng định: Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục được mở rộng. Liên minh này là động lực cách mạng to lớn. Nó đảm bảo quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân. Đồng thời, mỗi lực lượng thực hiện được lợi ích chính đáng. Quá trình liên minh bao gồm ba nội dung: chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội. Các nội dung có quan hệ chặt chẽ, chi phối lẫn nhau. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, liên minh đóng vai trò quyết định. Thanh Hóa là tỉnh có vị trí chiến lược ở Bắc Trung Bộ. Diện tích tự nhiên 11.106 km², chiếm 3,37% diện tích cả nước. Tỉnh có dân số khoảng 3,6 triệu người. Kinh tế-xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa. Đời sống nhân dân không ngừng cải thiện.

1.1. Cơ sở lý luận về liên minh giai cấp

Chủ nghĩa Mác-Lênin xác định liên minh giai cấp là vấn đề chiến lược. Giai cấp công nhân liên minh với nông dân tạo thành nền tảng cách mạng. Đội ngũ trí thức là lực lượng quan trọng thúc đẩy phát triển. Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo quan điểm này vào Việt Nam. Người nhấn mạnh vai trò của đại đoàn kết toàn dân. Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và phát triển. Nghị quyết Trung ương 7 khóa X khẳng định tăng cường liên minh công-nông-trí thức. Liên minh bao gồm nội dung chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội. Các nội dung liên hệ mật thiết, bổ sung cho nhau. Thực hiện đồng thời các nội dung là yêu cầu cơ bản. Liên minh đảm bảo sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng của từng lực lượng.

1.2. Tính tất yếu liên minh tại tỉnh Thanh Hóa

Thanh Hóa nằm ở cực Bắc Miền Trung. Diện tích tự nhiên 11.106 km². Dân số khoảng 3,6 triệu người. Kinh tế-xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa. Đời sống nhân dân không ngừng cải thiện. Tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng. Cơ sở hạ tầng được đầu tư phát triển. Quá trình công nghiệp hóa đặt ra nhiều thách thức. Liên minh công-nông-trí thức là nhu cầu tất yếu. Ba lực lượng hợp tác thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Liên minh đảm bảo ổn định chính trị. Góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển bền vững.

II. Phân tích thực trạng liên minh công nông trí thức tại Thanh Hóa

Thực trạng liên minh công-nông-trí thức ở Thanh Hóa có nhiều chuyển biến. Các phong trào thi đua thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa phát triển mạnh. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư được đẩy mạnh. Hợp tác kinh tế giữa các lực lượng được mở rộng. Mô hình hợp tác xã liên kết nông dân với doanh nghiệp phát triển. Đội ngũ trí thức tham gia chuyển giao công nghệ cho nông dân. Chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện. Giáo dục-đào tạo phát triển theo hướng chuẩn hóa. Tuy nhiên, liên minh còn tồn tại nhiều vấn đề. Sự phân hóa giàu nghèo giữa các nhóm xã hội có xu hướng gia tăng. Giai cấp công nhân đối mặt với nhiều thách thức. Quá trình chuyển đổi mô hình sản xuất gây khó khăn. Giai cấp nông dân gặp vướng mắc về đất đai. Thị trường tiêu thụ nông sản không ổn định. Đội ngũ trí thức chưa được phát huy đầy đủ vai trò. Các cơ chế liên kết thiếu đồng bộ.

2.1. Thành tựu đạt được trong liên minh

Liên minh công-nông-trí thức ở Thanh Hóa đạt nhiều kết quả tích cực. Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân được phát huy. Các phong trào thi đua thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Tiêu biểu là phong trào xây dựng gia đình văn hóa. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Hợp tác kinh tế giữa các lực lượng được mở rộng. Mô hình hợp tác xã liên kết nông dân với doanh nghiệp phát triển. Đội ngũ trí thức tham gia chuyển giao công nghệ. Năng suất nông nghiệp cải thiện đáng kể. Chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao. Giáo dục-đào tạo phát triển theo hướng chuẩn hóa. An sinh xã hội được đảm bảo. Đời sống nhân dân không ngừng cải thiện.

2.2. Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn

Liên minh công-nông-trí thức đối mặt nhiều thách thức. Sự phân hóa giàu nghèo giữa các nhóm xã hội gia tăng. Giai cấp công nhân gặp khó khăn trong chuyển đổi mô hình sản xuất. Giai cấp nông dân vướng mắc về đất đai và tiêu thụ nông sản. Đội ngũ trí thức chưa được phát huy đầy đủ vai trò tham mưu. Các cơ chế liên kết thiếu đồng bộ. Khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn triển khai còn lớn. Mâu thuẫn giữa mục tiêu chung và lợi ích riêng lẻ tồn tại. Mâu thuẫn giữa phát triển công nghiệp và bảo vệ quyền lợi nông dân. Mâu thuẫn giữa nhu cầu tri thức và khả năng tiếp cận giáo dục. Giải quyết đòi hỏi phối hợp đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở.

III. Giải pháp tăng cường liên minh công nông trí thức tại Thanh Hóa

Tăng cường liên minh công-nông-trí thức dựa trên các quan điểm cơ bản. Liên minh phải đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Nội dung liên minh bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội. Phát huy vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân. Đặt lợi ích toàn thể lên trên lợi ích cá nhân. Giải pháp kinh tế bao gồm mở rộng hợp tác. Xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới. Liên kết chuỗi giá trị nông sản. Ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất. Giải pháp nguồn nhân lực tập trung đào tạo nghề. Nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Phát triển chương trình thực tập cho sinh viên. Giải pháp chính trị tăng cường dân chủ cơ sở. Phát huy vai trò trí thức trong hoạch định chính sách. Tổ chức đối thoại giữa chính quyền và nhân dân. Giải pháp văn hóa-xã hội thúc đẩy giao lưu. Tổ chức hội chợ công nghệ và diễn đàn đổi mới. Hoàn thiện cơ chế giám sát đánh giá kết quả triển khai.

3.1. Quan điểm chỉ đạo và nguyên tắc thực hiện

Quan điểm chỉ đạo tăng cường liên minh phải toàn diện. Liên minh trên cả ba lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc xuyên suốt. Mỗi lực lượng có lợi ích riêng nhưng thống nhất mục tiêu chung. Phát huy vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân. Lợi ích cá nhân phục tùng lợi ích toàn thể. Liên minh gắn liền với nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phù hợp với điều kiện cụ thể của Thanh Hóa. Tôn trọng sự đa dạng trong khối liên minh. Tạo cơ chế bình đẳng giữa các lực lượng. Liên minh là quá trình lâu dài, liên tục. Cần có bước đi phù hợp từng giai đoạn.

3.2. Các giải pháp cụ thể và khả thi

Giải pháp kinh tế mở rộng hợp tác giữa ba lực lượng. Xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới. Liên kết chuỗi giá trị nông sản từ sản xuất đến tiêu thụ. Ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp. Giải pháp nguồn nhân lực đầu tư đào tạo nghề. Nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Chương trình chuyển giao công nghệ cho nông dân. Giải pháp chính trị tăng cường dân chủ cơ sở. Phát huy vai trò trí thức trong hoạch định chính sách. Đối thoại giữa chính quyền và nhân dân thường xuyên. Giải pháp văn hóa thúc đẩy giao lưu. Diễn đàn kết nối ba lực lượng. Hoàn thiện cơ chế giám sát đánh giá hiệu quả.

IV. Kết luận về liên minh công nông trí thức tại Thanh Hóa

Liên minh công-nông-trí thức có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Về lý luận, liên minh thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin. Đảng Cộng sản Việt Nam phát triển quan điểm liên minh phù hợp điều kiện cụ thể. Về thực tiễn, liên minh là nền tảng vững chắc. Đảm bảo sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Liên minh góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Ứng dụng vào phát triển tỉnh Thanh Hóa mang lại kết quả tích cực. Kinh tế tăng trưởng khá. Cơ sở hạ tầng được đầu tư. Đời sống nhân dân cải thiện. Tuy nhiên, thách thức còn nhiều. Phân hóa giàu nghèo gia tăng. Mâu thuẫn lợi ích giữa các nhóm tồn tại. Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế liên kết. Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực. Phát huy vai trò trí thức. Liên minh công-nông-trí thức là chiến lược lâu dài. Đòi hỏi sự kiên trì, sáng tạo. Mỗi giai đoạn cần nội dung và hình thức phù hợp. Mục tiêu cuối cùng là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Liên minh công-nông-trí thức có ý nghĩa lý luận sâu sắc. Thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam phát triển quan điểm liên minh phù hợp. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân được kế thừa. Về thực tiễn, liên minh là nền tảng cách mạng. Đảm bảo sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Liên minh góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Bài học từ Thanh Hóa có giá trị tham khảo. Áp dụng cho các tỉnh có đặc điểm tương tự. Liên minh là chiến lược lâu dài, liên tục.

4.2. Ứng dụng trong phát triển tỉnh Thanh Hóa

Ứng dụng liên minh vào phát triển Thanh Hóa đạt kết quả tích cực. Kinh tế tăng trưởng khá, cơ cấu chuyển dịch đúng hướng. Cơ sở hạ tầng được đầu tư phát triển mạnh. Đời sống nhân dân không ngừng cải thiện. Giáo dục-đào tạo phát triển theo hướng chuẩn hóa. Quốc phòng-an ninh được tăng cường. Trật tự an toàn xã hội đảm bảo. An sinh xã hội được quan tâm. Khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố vững chắc. Lòng tin của nhân dân đối với Đảng ngày càng nâng cao. Tạo thế và lực mới cho tỉnh phát triển nhanh, bền vững. Liên minh là yếu tố then chốt đảm bảo thành công.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Thạc sĩ triết học liên minh giữa công nhân nông dân và trí thức ở tỉnh thanh hóa hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ LIÊN MINH GIAI CẤP VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA LIÊN MINH GIỮA CÔNG NHÂN, NÔNG DÂN VÀ TRÍ THỨC Ở THANH HOÁ 1. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ LIÊN MINH GIAI CẤP Liên minh giai cấp là một trong những nội dung quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta, đây là cách thức nhằm tập hợp lực lượng cách mạng. Tư tưởng này được C.Mác đưa ra khi phân tích những sự kiện chính trị ở Pháp vào những năm 1848 - 1849. Sau này các Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển và làm phong phú thêm nội dung, biện pháp và giá trị thực tiễn của nó đối với cách mạng vô sản ở mỗi nước.

Quan niệm về liên minh giai cấp Vấn đề liên minh giai cấp công nhân, nông dân và trí thức đã được nhiều nhà khoa học, nhiều công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, để nhận thức đúng nội dung và biện pháp nhằm tăng cường liên minh giai cấp giữa công nhân, nông dân và trí thức trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá nói riêng, trước hết cần làm rõ khái niệm liên minh giai cấp. Khái niệm liên minh giai cấp có quan hệ với các khái niệm, như: “Liên hiệp”, “Liên minh” , “Liên minh công - nông” “Liên hiệp” là quá trình hợp lại với nhau, đoàn kết thống nhất theo đường lối chung để tạo thành một sức mạnh nhằm đạt tới những mục tiêu chung [1, tr. “Liên minh” là sự liên kết giữa hai hay nhiều lực lượng về mặt chính trị, kinh tế hay quân sự để nhằm một mục đích chung [66, tr.

10 “Liên minh công nông” là khối đoàn kết đặc biệt giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân lao động, là lực lượng nòng cốt của cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng XHCN do giai cấp công nhân lãnh đạo Trong lý luận của C.Mác, thuật ngữ liên minh lúc đầu được ông sử dụng để chỉ sự “liên hợp” giữa những người công nhân với nhau trong cuộc đấu tranh giành chính quyền. Trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học, C.Mác đã phân tích cuộc đấu tranh của công nhân chống tư bản và cho rằng đứng trước các nhà tư bản luôn liên kết với nhau, việc giữ vững hội liên hiệp đối với người công nhân trở nên cần thiết. Ông viết: “Trong cuộc đấu tranh ấy - đó là một cuộc nội chiến thực sự - tất cả những yếu tố cần thiết cho một cuộc chiến đấu sắp tới, đang được tập hợp lại và đang phát triển. Khi đã đạt đến chỗ ấy, thì liên minh mang một tính chất chính trị” [47, tr.

Cùng với quá trình phát triển của giai cấp và đấu tranh giai cấp, khái niệm liên minh được dùng để chỉ sự liên kết của các giai cấp khác nhau. Khi tổng kết các phong trào đấu tranh vào năm 1847 ở Châu Âu, Ph.Ăng ghen cho rằng, sở dĩ giai cấp tư sản ở đây giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống giai cấp quý tộc phong kiến là nhờ có sự ủng hộ của giai cấp nông dân. Điều kiện để thực hiện sự liên minh ấy chính là họ có sự thống nhất những lợi ích căn bản. Như vậy, liên minh ở đây là sự ủng hộ, sự phối hợp của giai cấp nông dân với giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống phong kiến vì những lợi ích chung trong hoàn cảnh lịch sử lúc đó.

Nhưng khi giai cấp tư sản đã quay lưng lại với người nông dân bằng việc cầm cố và cho vay nặng lãi thì liên minh này bị phá vỡ. Vì thế, người nông dân đã đứng lên chống lại giai cấp tư sản. Đồng thời, trong cuộc đấu tranh ấy, người nông dân đã tìm được người bạn đồng minh, người lãnh đạo là giai cấp vô sản. Đối với Lênin, khi nói về liên minh giai cấp và chuyên chính vô sản, Người xác định: “chuyên chính vô sản là một hình thức đặc biệt của liên minh 11 giữa giai cấp vô sản, đội tiên phong của những người lao động với đông đảo các tầng lớp lao động không phải là vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, trí thức…)” [39, tr.

Bởi vì theo ông, việc thực hiện mối liên minh giữa giai cấp công nhân và các tầng lớp khác trong xã hội được thực hiện qua nhiều giai đoạn khác nhau, tuỳ vào điều kiện và hoàn cảnh nhất định. Nếu như trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, phải thực hiện liên minh về quân sự nhằm tạo ra sức mạnh để giữ vững chính quyền cách mạng và đấu tranh chống lại các thế lực phản cách mạng, thì trong giai đoạn cách mạng mới - cách mạng xã hội chủ nghĩa, khối liên minh ấy cần được củng cố trên cơ sở các hình thức khác, nhất là liên minh về kinh tế, nhằm giải quyết hài hoà lợi ích của các giai tầng trong xã hội. Theo chúng tôi, các cách tiếp cận trên về liên minh giai cấp của các nhà kinh điển đã bao quát tính tất yếu, vai trò và các nội dung kinh tế, chính trị, xã hội của liên minh. Theo Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học, liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân là hình thức hợp tác giai cấp đặc biệt giữa hai giai cấp lao động trong cuộc đấu tranh nhằm lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa và xây dựng thành công xã hội cộng sản chủ nghĩa (CSCN).

Sự ra đời và củng cố khối liên minh này bắt nguồn từ những lợi ích căn bản của những giai cấp kể trên và là một quy luật lịch sử khách quan [66, tr. Như vậy, liên minh giai cấp hiểu theo nghĩa chung nhất là sự liên kết giữa các lực lượng xã hội có lợi ích phải phối hợp hành động để thực hiện những mục tiêu xác định, những lợi ích chung; đồng thời là một hình thức đặc biệt của đấu tranh giai cấp, chỉ sự liên kết giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội nhằm phối hợp hành động để cùng thực hiện những mục tiêu chính trị chung trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Cơ sở chủ yếu của liên minh giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội là vấn đề lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp. Ở đó, các giai cấp lấy mục tiêu 12 đấu tranh chung làm lợi ích thống nhất để hành động, củng cố và phát triển khối liên minh.

Từ các quan niệm như đã nêu trên về liên minh giai cấp cho thấy, tuy được diễn đạt bởi những cách thức khác nhau, nhưng đều đi đến thống nhất cho rằng: liên minh giai cấp là sự liên kết, thống nhất hành động dựa trên cơ sở lợi ích giữa các giai cấp, lực lượng trong xã hội. Do đó, liên minh giai cấp là một phạm trù lịch sử, gắn với từng giai đoạn lịch sử. Bởi vì lợi ích của mỗi giai cấp, mỗi lực lượng trong khối liên minh, cũng như lợi ích của cả khối liên minh luôn có những biến động theo thời gian và không gian xác định. Mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, do thực tiễn mâu thuẫn của xã hội luôn xuất hiện sự liên kết giữa các giai cấp, các lực lượng xã hội để giải quyết mâu thuẫn đó và bảo vệ lợi ích chung, do đó các giai cấp phải phối hợp hành động để thực hiện những mục tiêu lợi ích đó.

Trong chủ nghĩa tư bản (CNTB), dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thân phận mọi người lao động, kể cả trí thức, giai cấp nông dân hay giai cấp vô sản thì đều phải chịu sự áp bức, bóc lột của các nhà tư bản. Để thoát khỏi sự áp bức, bất công trong điều kiện trong tay không có tư liệu sản xuất, không còn con đường nào khác là phải thực hiện liên minh giữa các giai cấp vì mục tiêu lật đổ giai cấp tư sản, giành chính quyền về tay giai cấp lao động. Do vậy, liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức thực chất là sự liên kết giữa công nhân, nông dân và trí thức để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng vô sản, xây dựng CNXH. Sự liên minh ấy là nhu cầu thực tiễn khách quan của cách mạng vô sản.

Tiếp thu và kế thừa những nội dung về liên minh giai cấp như đã nêu, Chúng tôi thống nhất với quan niệm cho rằng, liên minh giai cấp công nhân, nông dân và trí thức là sự đoàn kết, hợp lực, hợp tác, liên kết của công nhân, nông dân, trí thức nhằm thực hiện nhiệm vụ xã hội, lợi ích của mỗi lực lượng, và của cả khối liên minh, đồng thời góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. 13 Với cách hiểu nêu trên, khái niệm đó bao hàm các đặc trưng cơ bản sau là: Thứ nhất, liên minh phải có mục đích xác thực, nhằm thực hiện một nhiệm vụ. Trong liên minh giai cấp công nhân, nông dân và trí thức nhiệm vụ trực tiếp là đấu tranh để xây dựng chế độ mới. Đó là xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN); trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) là xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc lấy mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ hai, hình thức của liên minh là đoàn kết, hợp lực, hợp tác, liên kết. Việc lựa chọn các hình thức liên kết phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn xã hội gắn với nhiệm vụ lịch sử của giai cấp công nhân để lựa chọn hình thức liên minh. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam xét trên lĩnh vực kinh tế, hình thức của liên minh là mô hình hiệp hội, Hợp tác xã (HTX) kiểu mới, liên kết các nhà (phổ biến là 4 nhà)…, trên lĩnh vực chính trị, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, là bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Thứ ba, liên minh giữa các giai cấp là nhằm đáp ứng nhu cầu lợi ích của các lực lượng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ