Chương 1: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG Mỗi ngành khoa học có hệ thống phạm trù của riêng mình. Ví dụ, Mỹ học có phạm trù: Cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hài…; Đạo đức có phạm trù: Thiện, ác…; Toán học có phạm trù: Số, hàm số… Các phạm trù đó chỉ phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung bản chất của các sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định của thế giới khách quan trong phạm vi nghiên cứu của một ngành khoa học cụ thể. Với chức năng của mình, triết học nghiên cứu những phạm trù chung nhất, phản ánh những thuộc tính bản chất nhất, những mối liên hệ cơ bản nhất của toàn bộ hiện thực (tự nhiên, xã hội, tư duy). Chẳng hạn, phạm trù vật chất, ý thức, cái chung - cái riêng, tất nhiên - ngẫu nhiên, nguyên nhân - kết quả… phản ánh thuộc tính bản chất nhất, chung nhất và phổ biến nhất của tất cả sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.
Trong luận văn này, chúng tôi tập trung phân tích các phạm trù cái chung, cái riêng và quan hệ biện chứng giữa chúng. Phạm trù cái chung, cái riêng trong triết học trước Mác Trong những nền văn minh cổ đại rực rỡ mà ngày nay người ta biết được thì nền văn minh Hy Lạp xuất hiện muộn hơn cả, nhưng nó lại rất phong phú, đa dạng đặc biệt là về triết học. Điều này được giải thích bằng những tiền đề kinh tế, xã hội, khoa học và điển hình là chế độ chiếm hữu nô lệ ở nơi đây. Lịch sử triết học Hy La cổ đại đã chứng tỏ rằng, toàn bộ lịch sử triết học Hy La cổ đại đã đặt ra hầu hết các vấn đề triết học, trong đó có vấn đề cái chung và cái riêng.
Cũng từ đó, phạm trù cái chung, cái riêng là sự quan tâm của các trào lưu triết học khác nhau trong lịch sử. Dưới đây, chúng tôi tập trung phân tích quan niệm của một số triết gia tiêu biểu trong lịch sử triết học trước Mác về vấn đề cái chung, cái riêng. Vì vậy, ông chia thế giới thành hai loại: Thế giới ý niệm và thế giới các sự vật cảm tính. Thực chất, Platôn không có học thuyết riêng về phạm trù, song học thuyết về ý niệm của ông chứa đựng những quan niệm sơ khai về phạm trù cái chung và cái riêng.
Ý niệm được hiểu như là các khái niệm chung, nó có trước, mang tính thứ nhất; còn thế giới vật thể cảm tính mang tính phái sinh và lệ thuộc, nó chỉ là cái bóng của ý niệm - tính thứ hai. Với lý đó, cái bàn (sự vật cảm tính) luôn luôn xuất hiện, biến đổi và chịu sự phá hủy; còn ý niệm về cái bàn nói chung là vĩnh hằng và bất biến. Trong Bút ký triết học, khi nhận định về Platôn, Lênin đã viết: “chủ nghĩa duy tâm nguyên thủy: cái chung (khái niệm, ý niệm) là một tồn tại cá biệt. Điều đó hình như kỳ lạ, vô lý một cách quái dị (nói đúng hơn: một cách ấu trĩ)” [24, 394].
Để minh họa cho quan niệm thế giới các sự vật cảm tính được sinh ra từ thế giới các ý niệm như thế nào, Platôn đã đưa ra ví dụ hang động như sau: Ở ngoài cửa hang của một cái hang tối có một đoàn người đi qua, ánh sáng mặt trời chiếu vào cửa hang làm cho bóng của đoàn người được in lên vách đá. Nếu nhìn lên vách hang bên trong, người ta sẽ thấy những bóng người đi qua, chứ không phải bản thân đoàn người. Thế giới các sự vật cảm tính cũng vậy, nó chỉ là cái bóng của ý niệm đã có từ trước mà thôi. Như vậy, khi giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học, Platôn cho rằng ý niệm là cái có trước, là nguyên nhân, là bản chất của sự vật.
Còn sự vật là cái có sau, cái bắt chước, cái mô phỏng, là bản sao của ý niệm. Nói một cách khác, theo Platôn, để lý giải một sự vật, hiện tượng nào đó, trước hết cần phải hiểu ý niệm của nó và nhận thức của con người về thế giới được thực hiện bằng khái niệm chứ không phải bằng trực quan cảm tính. 14 z Điều đó chứng tỏ sự bất lực của ông khi rút thế giới các sự vật cảm tính từ thế giới các ý niệm bất động. Việc Platôn giải quyết một cách duy tâm vấn đề cơ bản của triết học đã bóp méo quan niệm của ông về cái chung và cái riêng và đã đưa ông sang hướng siêu hình.
Platôn đã đem bản chất loài đối lập với cái mà nó là bản chất, tức là với các sự vật cảm tính và các khái niệm về chúng và biến chúng thành bản thể độc lập bất biến. Chính điểm này của Platôn sau này đã bị Arixtôt phê phán: “Aritxtôt khẳng định rằng bản chất không thể nằm ngoài cái mà nó là bản chất, rằng ở Platôn có sự tách rời rõ rệt giữa ý niệm và các sự vật. Đúng là mối tương quan giữa các ý niệm bất biến và các sự vật cảm tính, biến đổi đã tạo thành vấn đề nan giải đối với Platôn” [67, 251]. Tóm lại, trong quan niệm về cái chung và cái riêng, Platôn theo lập trường duy tâm khách quan, coi cái riêng chỉ là hiện thân của cái chung, là cái bóng của cái chung.
Bất kỳ sự vật nào cũng chỉ là sự thể hiện đặc thù các ý niệm tương ứng dưới dạng vật chất. Mặt khác, về cơ bản Platôn tách rời chúng và không chỗ nào làm rõ mối liên hệ giữa chúng. Mặc dầu vậy, theo ông, cần phải tìm ý niệm của nó; nói cách khác, phải hiểu sự vật ở mức độ khái niệm, mức độ bản chất, có thể coi đây là ý định hợp lý trong vấn đề quan hệ cái chung, cái riêng của Platôn. Arixtôt (384 -322) Arixtôt là học trò xuất sắc của Platôn, nhưng chính ông lại nhận ra sai lầm của thầy mình về học thuyết ý niệm.
Sai lầm của Platôn là ở chỗ, ông đã tách rời bản chất khỏi cái có bản chất đó, và biến ngay cái chung (khái niệm) thành cái riêng biệt bên cạnh thế giới cảm tính, có trước thế giới cảm tính. Nghĩa là Platôn đã biến những khái niệm được hình thành trong quá trình nhận thức thành một thế giới riêng biệt, siêu cảm giác, tồn tại một cách độc lập đối với các sự vật được phản ánh. Trên cơ sở phê phán học thuyết ý niệm của Platôn, Arixtôt đã xây dựng hệ thống triết học của riêng mình. Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng 15 z triết học Platôn và các khái niệm của ông có ảnh hưởng lớn tới hệ thống các phạm trù của Arixtôt.
Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng, chính Arixtôt là người đầu tiên đã đưa thuật ngữ phạm trù vào triết học và ông đã tiến hành phân loại các sự vật, hiện tượng theo hệ thống 10 phạm trù: Bản chất, số lượng, chất lượng, quan hệ, vị trí, thời gian, tư thế, chiếm hữu, hành động, chịu đựng (đã được ông nêu trong tác phẩm “Các phạm trù” (“Kategoria”). Ngoài những phạm trù nói trên, trong tác phẩm Các phạm trù, còn nhiều khái niệm được ông bàn đến thường xuyên: Vật chất, hình thức, tất nhiên, ngẫu nhiên… và cái chung, cái riêng. Vậy có nên xem các khái niệm này như những phạm trù khác trong hệ thống phạm trù của ông không? Chúng tôi tán thành quan điểm của Nguyễn Văn Dũng là cần xem xét các khái niệm này trong hệ thống phạm trù của Arixtôt đã nêu trong Các phạm trù. Nếu bó hẹp trong phạm vi 10 phạm trù thì sẽ không thể đánh giá đúng triết học của Arixtôt trong toàn bộ tiến trình lịch sử triết học.
Sau khi phê phán học thuyết ý niệm của Platôn, Arixtôt đã xuất phát từ bản thể luận: “Nếu không có bản chất, không có vật chất, thì tuyệt nhiên không có gì cả” [10, 41-42]. Ông còn nhấn mạnh rằng: “Vật chất là bản chất duy nhất”. Vì vậy, trong học thuyết phạm trù của ông, bản chất là phạm trù cơ bản, quyết định các phạm trù còn lại nên nhận thức sự vật là nhận thức bản chất của nó. Ông viết: “Bản chất của mọi vật… là cơ chất, còn cơ chất - đó là mọi cái còn lại viết về nó, trong khi đó chính bản thân nó lại không nói về cái khác” [10, 42].
Như vậy, theo Arixtôt, bản chất tồn tại độc lập, song lại được thể hiện thông qua các phạm trù khác, còn các phạm trù khác thể hiện những phương diện riêng biệt của bản chất. Arixtôt coi bản chất có tính hai mặt, vật chất là mặt thực tại, hình thức là mặt lôgic. Trên cơ sở đó, Arixtôt phân chia bản chất thành bản chất thứ nhất và bản chất thứ hai. Bản chất thứ nhất được tạo ra từ vật chất và hình thức, ở Phép siêu hình, ông đã 16 z viết: “Bản chất là cái cấu tạo thành cơ sở - với một nghĩa đó là vật chất… với một nghĩa khác là hình thức… còn với một nghĩa thứ ba là cái cấu thành từ vật chất và hình thức” [67, 289].
Bản chất này chính là sự vật, hiện tượng (hiểu là cái riêng) tồn tại một cách cảm tính có số lượng và chất lượng nhất định, vận động, biến đổi, và phát triển trong không gian và luôn có mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Đối với bản chất thứ hai (hiểu là cái chung), tạo thành phương diện ổn định của tồn tại, nó chỉ là cái phổ biến tất yếu nằm trong bản chất thứ nhất và là bản chất chung: “Các nhà triết học thời nay thường thừa nhận cái chung là cái bản chất…; ngược lại, các nhà triết học thời xưa cho rằng cái cá biệt là cái bản chất” [10, 60]. Khái niệm cái chung và cái riêng với tư cách là phạm trù triết học, lần đầu tiên đã được Arixtôt nghiên cứu. Đây cũng là phạm trù được Lênin rất quan tâm trong Bút ký triết học.
Vậy theo Arixtôt, cái chung là gì? Cái riêng là gì? Arixtôt viết: “Cái chung là một cái gì đó hoàn chỉnh, bởi vì nó bao trùm nhiều phần giống nhau” [10, 98-99]; còn cái riêng: Là một hiện tượng cụ thể được hình thành từ vật chất và hình thức; nó thống nhất ở ba nghĩa: Cái gì, ở đâu, khi nào. Như đã phân tích, ông gọi cái riêng là bản chất thứ nhất, cái chung (khái niệm) là bản chất thứ hai.