Chương I cuốn sách, tác giả đã luận bàn rất ngắn gọn, súc tích về khái niệm và một số quan niệm cơ bản về dân chủ từ nhiều phương diện khác nhau. Ngoài quan niệm cơ bản "Dân chủ là một hình thức tổ chức nhà nước mà trong đó, quyền lực 9 thuộc về nhân dân, phục vụ nhân dân và vì quyền lợi của nhân dân" [85, tr.37], ở những khía cạnh khác, trong các quan hệ khác nhau của đời sống xã hội, tác giả còn nêu ra 11 quan niệm khác nhau về dân chủ. Một số quan niệm đó là: “Dân chủ là một lối sống dựa trên sự tôn trọng quyền cá nhân”; “Dân chủ là quyền bình đẳng của mỗi người trong việc nhận thức và hành động xây dựng xã hội, theo cách mà đa số đều đạt được lợi ích”, “Dân chủ là một tư tưởng chính trị, mà các giá trị cơ bản của nó là tự do, bình đẳng và thừa nhận lẫn nhau” hay “Dân chủ là một sự trao đổi và đối thoại được thực hiện một cách tự do nhất giữa các thành viên xã hội”; hoặc “Dân chủ là một hình thức tổ chức chính quyền, để tất cả mọi người đều có thể, trực tiếp hoặc gián tiếp, tham gia vào các quyết định quan trọng trong phân bổ các giá trị”. Đây là những tư tưởng rất quan trọng mà luận án kế thừa và làm rõ trong chương 2.
Cuốn sách còn có nhiều nhận định, đánh giá sâu sắc chứa đựng nhiều gợi mở. Ví dụ: "Dân chủ nếu có khiếm khuyết, nó sẽ được sửa chữa bằng một trình độ dân chủ cao hơn. Tuy nhiên, không phải chính thể nào cũng thừa nhận chân lý này. Những công trình nghiên cứu về thực hành dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa Vũ Văn Hiền, Dân chủ cơ sở qua kinh nghiệm của Thụy Điển và Trung Quốc [45].
Công trình đã phân tích việc thực hiện dân chủ cơ sở qua kinh nghiệm của Thụy Điển và Trung Quốc về các vấn đề: Nhà nước phúc lợi xã hội, về hệ thống chính trị; sự tham gia hoạt động quản lý nhà nước một cách dân chủ; dân chủ điện tử - một công cụ chính trị mới; xây dựng chính phủ của nhân dân trong thế kỷ mới. Hay xây dựng dân chủ cơ sở với xã hội khá giả, quan hệ xây dựng dân chủ ở cơ sở với cải cách hệ thống chính trị. Khu dân cư tự quản là thực tiễn mới của việc xây dựng nền dân chủ cơ sở ở đô thị. Những phân tích này là tài liệu quý để tác giả luận án có thêm góc nhìn để so sánh thực tiễn hai chế độ dân chủ ở hai quốc gia đi theo hai con đường phát triển khác nhau là Trung Quốc và Thuỵ Điển.
10 Lê Văn Toan, Nguyễn Viết Thảo, Thể chế chính trị - Một số kinh nghiệm của thế giới [111]. Tác giả đã khái quát những nét chính về thể chế chính trị của các nước trong từng châu lục để có cách nhìn tổng quan hơn, so sánh đậm nét hơn về những nét giống và khác nhau của thể chế chính trị từng châu lục trên toàn thế giới, từ đó chỉ ra kinh nghiệm và những gợi mở đối với việc xây dựng thể chế chính trị Việt Nam. Phạm Văn Đức, Thực hành dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền [40]. Cuốn sách này dành hẳn Chương II để phân tích kinh nghiệm thực hành dân chủ của một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó, các tác giả đã phân tích nội dung thực hành dân chủ ở Cộng hòa Liên bang Đức, ở Thái Lan, ở Xingapo, ở Đài Loan; từ đó nêu lên một số hạn chế trong quá trình thực hành dân chủ ở những nước này cũng như những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
Viết về thực hành dân chủ ở Cộng hoà Liên bang Đức và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Phạm Văn Đức cho rằng: Kinh nghiệm thực hành dân chủ ở Đức có thể cung cấp cho chúng ta những bài học bổ ích trong lĩnh vực chính trị và kinh tế. Về chính trị, trước hết cần xây dựng một thể chế dân chủ, với các quyền và tự do cơ bản của công dân được bảo đảm bằng những nguyên tắc hiến định. Nhà nước pháp quyền đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tư tưởng, tôn giáo, hội họp, lập hội (bao gồm thành lập các nghiệp đoàn, đảng phái,.), tự do bầu cử, ứng cử, quyền sở hữu và tự do kinh doanh của công dân. Về kinh tế, tăng cường và mở rộng việc thực hành dân chủ các quyền kinh tế thông qua việc không ngừng phát huy lợi thế của nền kinh tế thị trường nhưng trên nền tảng có sự điều tiết bằng những chiến lược cụ thể [40, tr123-124].
Những nhận định như vậy có ý nghĩa quan trọng để luận án tham khảo trong việc so sánh về thực tiễn hai nền dân chủ mà chúng tôi triển khai ở chương 3. 11 Các công trình trên cũng đã chỉ ra những hạn chế, những "bế tắc" của nền dân chủ phương Tây trước yêu cầu phát triển mới. Đặc biệt, giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiếp tục đấu tranh đòi thực hiện nền dân chủ công bằng hơn, bảo vệ lợi ích cho họ. Từ một số công trình nghiên cứu trên có thể thấy, nền dân chủ tư sản hay "dân chủ phương Tây" không phải là "một mô hình lý tưởng", một "khuôn mẫu" để các nước học tập hay mô phỏng.
Bản thân các học giả phương Tây cũng thừa nhận điều này. Đây cũng là một bài học cho quá trình xây dựng và thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng ta học hỏi, tiếp thu các giá trị tiến bộ, tích cực của dân chủ phương Tây nhưng cũng phải biết loại bỏ những tính chất tiêu cực của nó, đặc biệt đấu tranh phê phán các quan điểm có tính chất áp đặt mô hình dân chủ phương Tây vào nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch. Nguyễn Tiến Phồn, Dân chủ và tập trung dân chủ: Lý luận và thực tiễn [73], là công trình trong đó tập hợp những chuyên luận nghiên cứu của tác giả về dân chủ và tập trung dân chủ, tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện dân chủ và nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động quản lý nhà nước.
Đỗ Nguyên Phương, Trần Ngọc Đường, Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền [74]. Trong công trình này, tác giả luận giải nhiều nội dung về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như: cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng văn hóa pháp luật. Lê Minh Quân, Về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay [83]. Đây là một tác phẩm bàn về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; các giải pháp tiếp tục đẩy mạnh dân chủ hóa, xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta như: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng theo 12 hướng dân chủ hóa; xây dựng, phát triển xã hội công dân; xây dựng, phát triển nền văn hóa và con người Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa.
Nguyễn Ngọc Hà, Luyện Thị Hồng Hạnh, Dân chủ và tính đặc thù của việc thực hành dân chủ ở Việt Nam [42, tr.70] cho rằng, tùy theo điều kiện cụ thể về kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử, văn hóa riêng, mỗi nước đều xác định tiêu chuẩn dân chủ phù hợp với nước mình. Tính đặc thù của dân chủ và thực hành dân chủ ở Việt Nam thể hiện: dân chủ đang xây dựng là dân chủ xã hội chủ nghĩa; dân chủ ở Việt Nam không có đối trọng giữa các đảng; không có tam quyền phân lập; có sự thống nhất giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; không có quy định nhân dân trực tiếp bầu ra người đứng đầu Nhà nước. Đinh Thế Huynh và các cộng sự, 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam [53]. Trong cuốn sách này, các tác giả đã dành hẳn một chương để phân tích, tổng kết về xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, về đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền qua 30 năm đổi mới ở Việt Nam.
Đây là những vấn đề mà luận án sẽ tiếp tục làm rõ. Đỗ Thị Thạch, Nghiên cứu, tổng kết làm sáng tỏ những vấn đề lý luận xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới đất nước [96]. Trong báo cáo đề tài cấp bộ này, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận, thực tiễn; thực trạng nhận thức, xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới; những vấn đề đặt ra; xu hướng phát triển dân chủ và các giải pháp góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Đây là một công trình quan trọng trong việc nêu lên những giải pháp có tính khả thi trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta - vấn đề mà luận án đặc biệt quan tâm và kế thừa nhiều tư liệu.
Những công trình nghiên cứu mang tính so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa Nguyễn Đức Bách, Mấy vấn đề về dân chủ và hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay dưới góc độ quan hệ giữa các lợi ích [3]. Trong bài viết này, tác 13 giả đã phân tích những điểm chung - tương đồng của ba chế độ dân chủ đã có trong lịch sử: Dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ vô sản (hay dân chủ xã hội chủ nghĩa). Những điểm chung - tương đồng đó là: 1) Đều là một chế độ chính trị - một hình thức nhà nước khi xã hội còn giai cấp. 2) Đều có bộ máy nhà nước và quan chức do bầu cử.
3) Đều có hệ thống pháp luật nhà nước để buộc mọi người phải tuân thủ. 4) Đều chỉ có một giai cấp lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội. Đặc biệt, tác giả chỉ ra những khác biệt căn bản giữa các chế độ dân chủ khác nhau (dù có kế thừa nhau), suy cho cùng là ở bản chất - mục tiêu và lợi ích của các giai cấp lãnh đạo xã hội.