Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học (mã số 62 22 03 08) của tác giả Lê Thị Thu Mai, được bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2018 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Đức Bách, mang tiêu đề: "Những điểm tương đồng và khác biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản. Ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay". Công trình thuộc hướng nghiên cứu lý luận chính trị và so sánh thể chế trên nền tảng phương pháp luận mácxít, tiếp cận thuần túy định tính đối với các văn bản lý luận và thực tiễn thể chế chính trị.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Dân chủ là một giá trị phổ biến xuất phát từ thực tiễn sản xuất và sinh hoạt của nhân loại từ thời nguyên thủy, đồng thời là mục tiêu đấu tranh của quần chúng lao động qua các hình thái kinh tế - xã hội. Trong tiến trình đổi mới tại Việt Nam, việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, như Văn kiện Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra, nhận thức về dân chủ trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế; tình trạng tách rời hoặc đối lập giữa dân chủ và kỷ cương, pháp luật vẫn tồn tại; quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi còn bị vi phạm hoặc thực hiện mang tính hình thức; thậm chí có tình trạng lợi dụng dân chủ gây mất đoàn kết nội bộ và an ninh trật tự.
Thực tiễn đó làm nảy sinh những hoài nghi lý luận: bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là gì; liệu dân chủ xã hội chủ nghĩa có dân chủ hơn dân chủ tư sản; những điểm giống và khác nhau căn bản giữa hai nền dân chủ; và Việt Nam có thể tiếp thu những kinh nghiệm gì từ các quốc gia trên thế giới. Tác giả xác định tính cấp thiết của việc so sánh hai nền dân chủ nhằm giải quyết khoảng trống lý luận và khắc phục hai xu hướng nhận thức lệch lạc trong bối cảnh hội nhập quốc tế:
- Xu hướng bảo thủ, ấu trĩ tả khuynh, giữ tư duy cũ đối lập và phủ định sạch trơn mọi giá trị của dân chủ tư sản.
- Xu hướng mơ hồ, dao động, hữu khuynh, tuyệt đối hóa mô hình dân chủ tư sản phương Tây và chủ trương sao chép máy móc mô hình này vào Việt Nam.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở làm rõ lý luận và thực tiễn về những điểm tương đồng và khác biệt giữa chế độ dân chủ tư sản và chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, luận án đề xuất các yêu cầu cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm vận dụng những điểm tương đồng và khác biệt này vào quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Một là, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, từ đó xác định hướng nghiên cứu của luận án.
- Hai là, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu về những điểm tương đồng và khác biệt giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
- Ba là, phân tích thực chất những điểm tương đồng và khác biệt giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng trong xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
- Bốn là, đề xuất những yêu cầu cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục vận dụng những điểm tương đồng và khác biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản trong xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những điểm tương đồng và khác biệt giữa chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa và chế độ dân chủ tư sản, cùng sự vận dụng những điểm tương đồng và khác biệt đó ở Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi nội dung: Tập trung làm rõ sự tương đồng và khác biệt giữa hai chế độ dân chủ trên các phương diện bản chất giai cấp, cơ sở kinh tế, tổ chức quyền lực chính trị và đời sống văn hóa - xã hội.
- Phạm vi không gian và thời gian: So sánh hai nền dân chủ trên ba lĩnh vực chủ yếu là chính trị, kinh tế và văn hóa - xã hội xét cả về phương diện lý luận lịch sử và thực tiễn vận hành đương đại tại Việt Nam cũng như trên thế giới.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống công trình nghiên cứu phong phú của các tác giả trong và ngoài nước, phân loại theo các nhóm chủ đề học thuật chính:
Các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước
- Nghiên cứu về quan niệm, cách tiếp cận và bản chất dân chủ: Hoàng Chí Bảo (2000) và Nguyễn Đăng Quang (2003) phân tích dân chủ từ các cơ sở kinh tế, chính trị, văn hóa và nội dung văn minh, nhân đạo; Nguyễn Tiến Phồn (2003) và Cao Văn Thống (2009) nghiên cứu nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức bộ máy Đảng và Nhà nước; Vũ Văn Viên (2001) và Lương Đình Hải (2002) luận giải mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền và việc thực thi dân chủ; Trần Quang Nhiếp (2000) phân tích dân chủ cơ sở và phát triển cộng đồng; Nguyễn Thanh Tuấn (2004) làm rõ quan điểm của V.I. Lênin về dân chủ xã hội chủ nghĩa; Hà Đăng (2006), Phan Xuân Sơn (2011), Trương Minh Tuấn (2011), Vũ Hoàng Công (2011) nghiên cứu các quan điểm mới của Đảng về thể chế và cơ chế kiểm soát quyền lực; Hội đồng Lý luận Trung ương (2010) phân tích mối quan hệ giữa dân chủ, nhân quyền với tính đặc thù quốc gia; Lê Minh Quân (2006), Cao Đức Thái (2006), Nguyễn Trọng Chuẩn (2008) tiếp cận dân chủ từ góc độ giá trị, thể chế và phong cách; Đức Vượng (2008) tổng kết nhận thức lý luận của Đảng; Hồ Sĩ Quý (2006) trong cuốn sách Một số vấn đề về dân chủ, độc tài và phát triển đã hệ thống hóa 11 quan niệm khác nhau về dân chủ trong các mối quan hệ xã hội.
- Nghiên cứu về thực hành dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa: Vũ Văn Hiền (2001) phân tích kinh nghiệm dân chủ cơ sở tại Thụy Điển và Trung Quốc; Lê Văn Toan và Nguyễn Viết Thảo (2006) so sánh thể chế chính trị thế giới; Phạm Văn Đức (2011) nghiên cứu thực hành dân chủ trong điều kiện một đảng cầm quyền và kinh nghiệm tại Đức, Thái Lan, Singapore, Đài Loan; Đỗ Nguyên Phương và Trần Ngọc Đường (2004) bàn về xây dựng nhà nước pháp quyền; Lê Minh Quân (2008) nghiên cứu tiến trình dân chủ hóa ở Việt Nam; Nguyễn Ngọc Hà và Luyện Thị Hồng Hạnh (2014) phân tích tính đặc thù của thực hành dân chủ ở Việt Nam; Đinh Thế Huynh cùng cộng sự (2016) tổng kết 30 năm đổi mới về dân chủ và hệ thống chính trị; Đỗ Thị Thạch (2016) nghiên cứu lý luận xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới.
- Nghiên cứu mang tính so sánh điểm tương đồng và khác biệt: Nguyễn Đức Bách (2004) chỉ ra 4 điểm chung của các chế độ dân chủ trong lịch sử có giai cấp (đều là hình thức nhà nước, có bộ máy do bầu cử, có hệ thống pháp luật, do một giai cấp lãnh đạo) và nhấn mạnh sự khác biệt ở mục tiêu, lợi ích giai cấp; Thái Ninh và Hoàng Chí Bảo (1990) tiếp cận 5 khía cạnh của dân chủ xã hội chủ nghĩa; Trần Thành (2004) nghiên cứu lịch sử và hiện đại của dân chủ hóa; Nguyễn Văn Quyết (2011) làm rõ quan điểm Mác - Lênin về tương đồng và khác biệt; Lô Quốc Toản (2012) trong giáo trình lý luận đã nêu 3 điểm giống nhau (thực hành qua nhà nước pháp quyền, đề cao nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân, bị quy định bởi trình độ kinh tế - dân trí) và 3 điểm khác nhau (cơ sở sở hữu, giai cấp thụ hưởng, tính toàn diện của các lĩnh vực).
Các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài
- Về lý thuyết và mô hình: N. Davletshina (1998) nghiên cứu thể chế và cấu trúc dân chủ; Viện Triết học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga (2004) bàn về giá trị phổ quát và kinh nghiệm lịch sử; David Held (2011) phân tích sự đa dạng của các mô hình quản lý nhà nước hiện đại và chỉ rõ không có một mô hình chuẩn duy nhất; O. Bogomolov (2008) phân tích mô hình nhà nước phúc lợi Bắc Âu dưới ảnh hưởng lịch sử của hệ thống xã hội chủ nghĩa; Viện Quốc tế về dân chủ và hỗ trợ bầu cử (IDEA, 2011) nghiên cứu các cơ chế dân chủ trực tiếp (trưng cầu ý dân, sáng kiến công dân, bãi miễn); Thomas Meyer (2010) đánh giá mô hình dân chủ xã hội tại 6 quốc gia (Thụy Điển, Hà Lan, Đức, Mỹ, Anh, Nhật Bản).
- Về thực hành dân chủ tư sản và những hạn chế: Lilia Sevtsova (2008) chỉ ra sự bất cập của việc "xuất khẩu dân chủ"; tài liệu từ Đài Tiếng nói quốc tế nước Nga (2012) dẫn báo cáo của Bộ Ngoại giao Nga và nhận định của Andranik Migranyan về những vi phạm quyền con người, bất bình đẳng xã hội tại Hoa Kỳ.
- Về thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ở các nước: Hồ Cẩm Đào (2008) khẳng định dân chủ nhân dân là bản chất của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc; Cốc Văn Khang (2003) phân tích 5 nội dung xây dựng dân chủ tại Trung Quốc; Trang Phúc Linh (2004), Đặng Đình Lựu (2007), Cục Lý luận - Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (2007), Thái Thượng Kim (2010) luận giải mối quan hệ giữa dân chủ trong Đảng và mở rộng dân chủ xã hội; Khăm Phon Bun Na Di (2009) nghiên cứu thực tiễn xây dựng chế độ dân chủ nhân dân tại Lào.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù các công trình trước đây đã đề cập từng khía cạnh riêng lẻ, phần lớn các nghiên cứu so sánh mới chỉ dừng ở mức khái quát lý tính, chưa có công trình nào đối chiếu một cách hệ thống, toàn diện thực chất các điểm tương đồng và khác biệt giữa hai chế độ dân chủ trên cả ba phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội; đồng thời gắn kết việc so sánh đó với việc rút ra các yêu cầu và giải pháp cụ thể cho thực tiễn xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ:
- Nguồn gốc và bản chất khái niệm: Thuật ngữ "dân chủ" có gốc từ tiếng Hy Lạp cổ (demos - nhân dân, kratos - quyền lực). Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định dân chủ vừa là hình thức nhà nước xuất hiện gắn liền với chế độ tư hữu và phân chia giai cấp, vừa là một giá trị tiến bộ xã hội phản ánh mức độ giải phóng con người.
- Cơ sở triết học về so sánh: Luận án sử dụng các cặp phạm trù của phép duy vật biện chứng gồm cái chung - cái riêng, cái phổ biến - cái đặc thù - cái đơn nhất để định nghĩa "tương đồng" (những giá trị chung, phổ quát của nhân loại mà cả hai nền dân chủ cùng chia sẻ) và "khác biệt" (những đặc trưng riêng biệt, quy định bản chất giai cấp đối lập của từng chế độ).
- Phân loại cách tiếp cận dân chủ: Luận án hệ thống hóa và đánh giá 5 cách tiếp cận lý luận chủ yếu hiện nay:
- Tiếp cận dân chủ là phạm trù chính trị gắn liền với nhà nước và sẽ tiêu vong khi xã hội không còn giai cấp.
- Tiếp cận coi nhân quyền là cốt lõi và tuyệt đối hóa quan điểm "nhân quyền cao hơn chủ quyền". Luận án phê phán cách tiếp cận này vì đã tách rời cá nhân khỏi cộng đồng quốc gia và tạo cớ can thiệp ngoại bang.
- Tiếp cận cho rằng dân chủ không thể đi liền với sự lãnh đạo và đồng nhất dân chủ với thể chế đa nguyên, đa đảng.
- Tiếp cận xem dân chủ chỉ là quá trình đối thoại hòa bình, đối lập tuyệt đối dân chủ với chuyên chính và phủ nhận vai trò của cách mạng.
- Tiếp cận hệ thống - cấu trúc, xem dân chủ là chỉnh thể hiện thực vận động theo quy luật phủ định của phủ định qua các nấc thang lịch sử từ tiền chính trị, chính trị đến phi chính trị. Luận án lựa chọn cách tiếp cận này làm khung phân tích chủ đạo.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng thuần túy phương pháp nghiên cứu định tính, dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử:
- Phương pháp nghiên cứu chung: Phân tích và tổng hợp lý thuyết; phương pháp hệ thống - cấu trúc; so sánh và đối chiếu thể chế; kết hợp chặt chẽ giữa lịch sử và logic; gắn kết lý luận với tổng kết thực tiễn.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp, bao gồm các văn kiện Đại hội Đảng, nghị quyết Trung ương, các văn bản quy phạm pháp luật, sách chuyên khảo, báo cáo khoa học của các viện nghiên cứu trong nước và quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này dành cho việc tổng thuật toàn diện hơn 50 công trình tiêu biểu trong và ngoài nước về dân chủ, phân định rõ các nhánh nghiên cứu lý thuyết, thực hành thể chế và so sánh. Tác giả đánh giá cao giá trị của các công trình đi trước trong việc làm rõ nghĩa gốc của dân chủ (demoskratos), khẳng định tính giai cấp của dân chủ chính trị, và mô tả sự đa dạng của các mô hình thực thi. Từ đó, chương 1 khẳng định hướng đi độc lập của luận án: tập trung so sánh thực chất tương đồng - khác biệt giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa trên 3 lĩnh vực cấu thành (chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội) nhằm phục vụ trực tiếp cho quá trình xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu về điểm tương đồng và khác biệt giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 làm rõ nội hàm lý luận của các khái niệm then chốt. Tác giả luận giải quá trình tiến hóa của dân chủ từ hình thức tự quản nguyên thủy đến các nền dân chủ có giai cấp (chủ nô, tư sản, xã hội chủ nghĩa). Dân chủ được xem xét trên hai góc độ mácxít: một hình thái nhà nước và một giá trị tiến bộ của văn minh nhân loại. Tác giả phân tích sâu sắc 5 cách tiếp cận dân chủ trong lý luận đương đại, từ đó xác lập cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc coi nền dân chủ là một chỉnh thể hoàn chỉnh bao gồm chế độ chính trị, quan hệ sở hữu kinh tế và môi trường văn hóa. Tiếp đó, tác giả sử dụng các cặp phạm trù triết học để định vị khái niệm "tương đồng" là cái chung/cái phổ biến và "khác biệt" là cái đặc thù/cái đơn nhất mang tính bản chất. Cuối chương, tác giả phân tích các yếu tố quy định sự tương đồng và khác biệt như trình độ phát triển lực lượng sản xuất, bản chất quan hệ sản xuất, cấu trúc thể chế chính trị và bối cảnh toàn cầu hóa.
Chương 3: Thực chất những điểm tương đồng, khác biệt giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 đi sâu phân tích thực chất nội dung so sánh trên ba lĩnh vực trọng tâm và khảo sát thực tiễn vận dụng tại Việt Nam thời kỳ đổi mới.
| Lĩnh vực so sánh |
Điểm tương đồng giữa hai chế độ dân chủ |
Điểm khác biệt căn bản về bản chất |
| Chính trị |
- Đều là hình thức nhà nước thừa nhận về mặt pháp lý quyền lực thuộc về nhân dân. - Đều tổ chức bộ máy nhà nước và cử quan chức thông qua cơ chế bầu cử. - Đều vận hành trên nền tảng pháp luật và mô hình nhà nước pháp quyền. - Đều ghi nhận các quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân trong Hiến pháp. |
- Dân chủ tư sản: Quyền lực thực chất thuộc về giai cấp tư sản; vận hành theo cơ chế phân quyền ("tam quyền phân lập"); đa đảng thực chất là sự cạnh tranh giữa các đảng phái tư sản. - Dân chủ XHCN: Quyền lực thuộc về nhân dân lao động do giai cấp công nhân lãnh đạo; quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp; một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo toàn diện. |
| Kinh tế |
- Đều vận hành dựa trên cơ chế kinh tế thị trường. - Đều thừa nhận sự đa dạng của các hình thức sở hữu và quyền tự do kinh doanh của chủ thể kinh tế. - Đều coi trọng giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất. |
- Dân chủ tư sản: Dựa trên nền tảng chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất; mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho giai cấp tư sản. - Dân chủ XHCN: Từng bước xác lập chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; định hướng xã hội chủ nghĩa, phân phối theo lao động và bảo đảm phúc lợi xã hội cho toàn dân. |
| Văn hóa - Xã hội |
- Đều hướng tới giải phóng con người, tôn trọng quyền con người và quyền công dân. - Đều coi văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí là điều kiện bảo đảm thực hiện dân chủ. - Đều tiếp thu các chuẩn mực văn minh nhân loại. |
- Dân chủ tư sản: Chi phối bởi hệ tư tưởng tư sản; đề cao chủ nghĩa cá nhân vị kỷ; quyền con người bị giới hạn bởi sự phân hóa giàu nghèo và địa vị tài sản. - Dân chủ XHCN: Chi phối bởi hệ tư tưởng Mác - Lênin; đề cao chủ nghĩa tập thể, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân - xã hội; hướng tới bình đẳng thực chất và phát triển con người toàn diện. |
Về thực trạng vận dụng tại Việt Nam, luận án đánh giá qua 30 năm đổi mới: nhận thức về dân chủ ngày càng đầy đủ hơn (xác định dân chủ là mục tiêu và động lực); thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN từng bước hoàn thiện; nhà nước pháp quyền XHCN được củng cố; các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện được mở rộng thông qua Pháp lệnh và Quy chế dân chủ ở cơ sở. Tuy nhiên, việc vận dụng còn bộc lộ các hạn chế: kỷ cương pháp luật chưa nghiêm, dân chủ hình thức còn diễn ra ở nhiều nơi, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa đồng bộ.
Chương 4: Yêu cầu và giải pháp vận dụng những điểm tương đồng và khác biệt giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Chương này xác định hệ thống quan điểm chỉ đạo và các nhóm giải pháp thực thi.
- Các yêu cầu có tính nguyên tắc: Vận dụng phải bảo đảm giữ vững bản chất giai cấp công nhân của nền dân chủ; kiên định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; bảo đảm sự thống nhất biện chứng giữa dân chủ và kỷ cương, pháp luật; tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của nhân loại trong dân chủ tư sản, kiên quyết chống rập khuôn máy móc hoặc rơi vào bẫy "diễn biến hòa bình".
- Các giải pháp chủ yếu:
- Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở vật chất vững chắc cho thực hành dân chủ.
- Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng chống tham nhũng, quan liêu.
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện mở rộng dân chủ trong Đảng để làm hạt nhân lan tỏa dân chủ ra toàn xã hội.
- Hoàn thiện các cơ chế, chính sách nhằm phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân qua cả hai hình thức: dân chủ trực tiếp (trưng cầu ý dân, tự quản cơ sở) và dân chủ đại diện (nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp).
- Xây dựng văn hóa dân chủ, nâng cao dân trí và trình độ văn hóa pháp lý cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ một cách toàn diện các chiều cạnh lý luận về dân chủ từ nguồn gốc lịch sử đến hiện đại; luận giải sâu sắc thực chất những điểm tương đồng (mang tính phổ biến của văn minh nhân loại) và những điểm khác biệt (mang tính bản chất giai cấp đối lập) giữa hai chế độ dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa trên cả ba lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội. Qua đó, công trình chỉ rõ những giá trị hợp lý của dân chủ tư sản mà Việt Nam có thể kế thừa và chọn lọc (như kỹ thuật lập pháp, cơ chế phân công kiểm soát quyền lực, văn hóa pháp quyền, phương thức quản trị công khai, minh bạch).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
Luận án phân tích thực trạng thực thi dân chủ trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam, nhận diện rõ những điểm nghẽn và nguyên nhân; từ đó đề xuất hệ thống yêu cầu có tính nguyên tắc và 5 nhóm giải pháp khả thi, có cơ sở khoa học nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng các giá trị dân chủ vào thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn phạm vi của một luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, nghiên cứu chủ yếu tiếp cận vấn đề ở tầng bậc lý luận khái quát và thể chế vĩ mô thông qua phân tích tài liệu thứ cấp; chưa đi sâu khảo sát định lượng hay thực hiện các điều tra xã hội học thực chứng về mức độ hài lòng hoặc hành vi thực hành dân chủ của các nhóm xã hội cụ thể ở từng địa phương.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực chứng về việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở tại các vùng miền đặc thù; nghiên cứu sâu các cơ chế kiểm soát quyền lực và phòng chống tham nhũng trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền dưới tác động của cuộc cách mạng số và sự phát triển của truyền thông đa phương tiện.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc các chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, Triết học Mác - Lênin, Xây dựng Đảng, Chính trị học, Luật học và Quản lý hành chính công.
- Phần nội dung có giá trị cao: Khung phân tích và bảng đối chiếu so sánh toàn diện giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa (Chương 3); phần luận giải, phê phán các quan điểm lệch lạc về "nhân quyền cao hơn chủ quyền" và quan điểm đồng nhất dân chủ với đa đảng (Chương 2); cùng hệ thống giải pháp xây dựng thể chế và kiểm soát quyền lực nhà nước (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Nguồn gốc ngôn ngữ và nội hàm nguyên thủy của khái niệm "dân chủ" được luận án xác định như thế nào?
Theo văn bản luận án, thuật ngữ "dân chủ" bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ, do hai từ ghép lại: demos (nhân dân) và kratos (quyền lực). Nội hàm nguyên thủy của dân chủ là "quyền lực thuộc về nhân dân", phản ánh thực tế sinh hoạt cộng đồng tự quản trong xã hội nguyên thủy khi chưa xuất hiện chế độ tư hữu và giai cấp.
2. Luận án chỉ ra những điểm tương đồng cơ bản nào giữa các chế độ dân chủ trong lịch sử có giai cấp?
Dựa trên quan điểm mácxít và kế thừa nghiên cứu của PGS. Nguyễn Đức Bách, luận án chỉ rõ 4 điểm tương đồng mang tính quy luật của mọi chế độ dân chủ có giai cấp:
- Đều là một chế độ chính trị, một hình thức tổ chức nhà nước.
- Đều có bộ máy nhà nước và đội ngũ quan chức được cử ra thông qua hình thức bầu cử.
- Đều thiết lập một hệ thống pháp luật của nhà nước buộc mọi thành viên xã hội phải tuân thủ.
- Đều do một giai cấp nắm quyền lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội.
3. Sự khác biệt căn bản nhất giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa nằm ở yếu tố nào?
Luận án khẳng định sự khác biệt căn bản nhất nằm ở bản chất giai cấp, mục tiêu và lợi ích của giai cấp lãnh đạo:
- Dân chủ tư sản dựa trên chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, quyền lực nhà nước thực chất thuộc về và phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản (thiểu số trong xã hội).
- Dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu, quyền lực thực sự thuộc về nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, nhằm giải phóng con người và mang lại lợi ích cho đa số nhân dân.
4. Vì sao luận án bác bỏ luận điểm "nhân quyền cao hơn chủ quyền"?
Luận án chỉ ra rằng con người không thể tồn tại ngoài một quốc gia, dân tộc cụ thể. Trong lịch sử, việc giành và giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là tiền đề bắt buộc để bảo đảm quyền công dân và quyền con người ("nước mất thì nhà tan"). Luận thuyết "nhân quyền cao hơn chủ quyền" là một biến tướng của chủ nghĩa thực dân mới, nhằm tạo cớ can thiệp phi pháp vào công việc nội bộ của các quốc gia có chủ quyền dưới chiêu bài "can thiệp nhân đạo".
5. Luận án lý giải thế nào về mối quan hệ giữa thể chế đa đảng và trình độ dân chủ?
Luận án chỉ rõ trình độ dân chủ không tỷ lệ thuận với số lượng đảng phái chính trị. Trong chế độ tư bản, đa đảng thực chất vẫn nằm trong khuôn khổ nhất nguyên hệ tư tưởng tư sản và phục vụ các tập đoàn tư bản độc quyền chi phối tài chính bầu cử. Nhiều quốc gia thực hiện đa nguyên, đa đảng đã rơi vào xung đột, khủng hoảng chính trị kéo dài làm tổn hại quyền lợi của người dân (như thực tế tại Ukraine, Thái Lan hay sự sụp đổ của Liên Xô khi xóa bỏ Điều 6 Hiến pháp). Do đó, có nhiều đảng không đồng nghĩa với việc xã hội có dân chủ thực chất.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Thị Thu Mai là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về sự tương đồng và khác biệt giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học. Bằng phương pháp tiếp cận duy vật lịch sử và phân tích so sánh định tính, luận án đã vạch rõ ranh giới bản chất giai cấp của hai nền dân chủ, đồng thời chỉ ra những giá trị tiến bộ của nhân loại cần kế thừa. Các yêu cầu và giải pháp do luận án đề xuất cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ của nhân dân tại Việt Nam hiện nay.