Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Đảng lãnh đạo quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1976-2006)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Anh Cường thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Xanh (bảo vệ năm 2012, mã số chuyên ngành: 62 22 56 01 - Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam). Luận án có dung lượng gồm 18 trang mở đầu, 156 trang nội dung chính (3 chương), 4 trang kết luận, 28 trang tài liệu tham khảo và 76 trang phụ lục.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Vào cuối thập kỷ 1980 và đầu thập kỷ 1990, hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô tan rã, trật tự hai cực Xô - Mỹ chấm dứt, mở ra thời kỳ chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới và quốc tế hóa nền kinh tế. Hoa Kỳ là quốc gia có nền kinh tế lớn, thị trường tiêu thụ rộng và tiềm lực vượt trội về vốn, công nghệ, quản lý. Về phía Việt Nam, công cuộc đổi mới từ năm 1986 đặt ra yêu cầu đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi quá khứ chiến tranh, khác biệt về chế độ chính trị và chính sách cấm vận toàn diện mà Washington áp đặt từ năm 1978. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam từng bước phá vỡ thế bao vây cấm vận, tiến tới bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 1995, ký kết và thực thi Hiệp định Thương mại song phương (BTA) năm 2001, và đạt được Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) vào năm 2006.
Văn bản luận án khẳng định khoảng trống nghiên cứu: Mặc dù đã có nhiều công trình đề cập đến quan hệ ngoại giao, kinh tế, quân sự giữa hai nước, nhưng chưa có công trình nào công bố và đề cập một cách hệ thống, cơ bản, toàn diện, trực tiếp về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong suốt 30 năm (1976-2006).
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu được xác định theo 4 nội dung:
- Làm rõ vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ.
- Tập trung làm rõ quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ hai nước trong thời gian từ năm 1976 đến năm 2006.
- Chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong quá trình bình thường hóa cũng như trong thời gian phát triển quan hệ giữa hai nước.
- Rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với việc thiết lập và đẩy mạnh quan hệ với Hoa Kỳ.
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm 3 điểm:
- Trình bày các diễn biến trong quan hệ Việt Nam với Hoa Kỳ.
- Phân tích những nhận thức, chủ trương và đường lối của Đảng trong các thời kỳ đã từng bước tác động đến quá trình bình thường hóa và đẩy mạnh hợp tác giữa hai nước.
- Tổng hợp, thống kê, phân tích những biểu hiện, thành tựu và hạn chế trong quan hệ hai nước để rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm trong lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Bối cảnh quốc tế và trong nước; chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, động thái của Hoa Kỳ; thành tựu, hạn chế và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng trong tiến trình quan hệ song phương.
- Phạm vi không gian: Quan hệ giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1976 (thời điểm thống nhất đất nước về mặt Nhà nước và Đại hội IV của Đảng) đến năm 2006 (thời điểm Hoa Kỳ thông qua PNTR với Việt Nam vào tháng 12/2006, đánh dấu việc bình thường hóa hoàn toàn về mặt kinh tế).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm chủ đề chính:
Nhóm công trình về ngoại giao và chiến lược quốc tế
- Olivrer Babson (2002): "WWS Case Study, Diplomacy of Isolation United States Unilateral Sanctions Policy and Vietnam 1975-1995" phân tích chính sách cấm vận và tính toán cân bằng chiến lược của Mỹ đối với Liên Xô và Trung Quốc.
- Viện nghiên cứu chiến lược và khoa học công an (2002): Cuốn "Việt Nam trong chính sách ngoại giao của Mỹ 'Một chiến lược cho sự cân bằng ở Đông Nam Á'" cung cấp thông tin về bối cảnh hoạch định chính sách của Mỹ từ tháng 4/1975 đến tháng 7/1990.
- Trần Nam Tiến (Luận án Tiến sĩ Lịch sử): "Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ (1995-2005)" phản ánh chi tiết hoạt động ngoại giao nhà nước trong giai đoạn 10 năm sau bình thường hóa nhưng chưa phân tích sâu sự phát triển tư duy đối ngoại của Đảng.
- Lê Bá Thuyên (1994, Luận án): "Chiến lược toàn cầu của Mỹ và tác động của nó trong quan hệ quốc tế hiện nay" làm rõ sự điều chỉnh chính sách của Mỹ từ sau 1975 đến 1994.
- Lê Khương Thùy (2003): "Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh" phân tích quan hệ giữa Mỹ và các nước Đông Nam Á.
- Trần Bá Khoa (2000): "Tìm hiểu những thay đổi lớn trong chiến lược quân sự của Mỹ" nêu bật mục tiêu địa chính trị của Washington tại Đông Á - Thái Bình Dương.
- Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Thị Lệ (2007): "Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ với Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh".
- The Asia Foundation (2003, 2004): Các kỷ yếu "Dialogue on U.S - Vietnam Relation Domestic dimensions" và "Dialogue on U.S - Vietnam Relation Global and Regional influence" khảo sát tác động từ thể chế nội bộ và nhân tố Trung Quốc.
- Mark E. Manyin (2008): Báo cáo "U.S - Vietnam Relation: Background and Issues for Congress" tổng hợp diễn biến quan hệ từ năm 1975 đến 2008 phục vụ Quốc hội Mỹ.
- Nguyễn Vũ Tùng (2007): "Khuôn khổ quan hệ đối tác của Việt Nam" làm rõ tiêu chí đối tác xác lập vào tháng 6/2005.
Nhóm công trình về kinh tế, thương mại và pháp luật
- Đỗ Đức Định (2000): "Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ" (NXB Thế Giới) phân tích 3 giai đoạn: 1954-1975, 1975-1995 và từ 1995, tập trung vào thương mại, đầu tư và hệ thống luật cấm vận.
- Nguyễn Thiết Sơn (2004): "Việt Nam - Hoa Kỳ quan hệ thương mại và đầu tư" và cuốn "Nước Mỹ năm đầu thế kỷ XXI" (2002).
- GS. Nguyễn Quang Thái (2009): Bài viết "Quan hệ với Hoa Kỳ cần được coi là một trụ cột của chính sách đối ngoại" tại hội thảo của Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Viện Nghiên cứu châu Mỹ.
- Đỗ Lộc Diệp (chủ biên, 1998): "Hoa Kỳ xu hướng chiến lược kinh tế kể từ kết thúc chiến tranh lạnh".
- Hà Văn Hội (2004, Luận án): "Chính sách thương mại của Mỹ đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong những năm 1990".
- Bộ Ngoại giao - Học viện Quan hệ quốc tế (2001): "Quan hệ kinh tế của Mỹ và Nhật Bản với Việt Nam từ năm 1995 đến nay".
- Đào Trí Úc (chủ biên, 2002): "Bước đầu tìm hiểu pháp luật thương mại Mỹ".
- Lê Văn Sang, Trần Quang Lân, Đào Lê Minh (đồng chủ biên, 2002): "Chiến lược và quan hệ kinh tế Mỹ - EU - Nhật Bản thế kỷ XXI".
- Trung tâm thông tin tư liệu - Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (1999): Báo cáo nghiên cứu tác động của quy chế tối huệ quốc (MFN).
Nhóm công trình về an ninh, "diễn biến hòa bình" và nhân quyền
- Nguyễn Anh Lân: Cuốn "Chiến lược diễn biến hòa bình của đế quốc Mỹ và các thế lực phản động quốc tế chống chủ nghĩa xã hội và chống Việt Nam xã hội chủ nghĩa" (Tổng cục II - Bộ Quốc phòng).
- Tổng cục Chính trị - Thư viện Quân đội (2002): Tập chuyên đề "Chiến lược diễn biến hòa bình của Mỹ đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay".
- Tổng cục Chính trị (2002): Cuốn "Mỹ sử dụng 'ngoại giao nhân quyền' trong quan hệ với Việt Nam và một số giải pháp chống 'ngoại giao nhân quyền'".
Nhóm công trình về sự lãnh đạo của Đảng và ngoại giao Việt Nam
- Trình Mưu, Nguyễn Thế Lực, Nguyễn Hoàng Giáp (đồng chủ biên, 2005): "Quá trình triển khai thực hiện chính sách đối ngoại của Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam", gồm các bài viết của Hồ Châu, Nguyễn Hoàng Giáp, Hà Mỹ Hương.
- Vũ Quang Vinh (2000, Luận án Tiến sĩ Lịch sử): "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại thời kỳ 1986 - 1996" tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
- Ngô Đức Thắng (2000): Đề tài cấp Bộ "Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế".
- Viện Thông tin khoa học (1996): "Tổng luận phân tích: Công tác đối ngoại từ Đại hội VII của Đảng đến nay quan điểm - chính sách và thành tựu".
- Nguyễn Đình Bin (chủ biên, 2002): "Ngoại giao Việt Nam 1945-2000" (NXB Chính trị Quốc gia).
- An Mạnh Tuấn (chủ nhiệm, 1998): Kỷ yếu đề tài cấp Bộ "Hợp tác và đấu tranh trong quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ hiện nay".
- Nguyễn Mại (chủ biên, 2008): "Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ hướng về phía trước".
- Các bài nghiên cứu chuyên sâu của Steven Robinson (1998), Nguyễn Điền (1997), Nguyễn Hữu Cát (1997), Phạm Hồng Tiến (2000), Trần Đình Vượng (2000), Allan E. Goodman (1994), Bùi Thanh Sơn (1994), Merle Ratner (1992), Vũ Thị Thu Giang (2010), Alan K. Sutter (1989), Robert G. Sutter (1993).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả nhận xét các tài liệu trên tiếp cận quan hệ hai nước theo từng lát cắt thời gian ngắn hoặc từng lĩnh vực chuyên biệt. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: Đặt vai trò lãnh đạo và sự chuyển biến tư duy đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam vào vị trí trung tâm, khảo sát tiến trình từ đối đầu, cấm vận đến bình thường hóa và phát triển toàn diện trong khung thời gian 30 năm (1976-2006).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Thế giới quan và phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; các quan điểm phương pháp luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đối ngoại và đấu tranh ngoại giao.
- Các khái niệm công cụ xác định trong văn bản:
- Đảng lãnh đạo: Việc Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra chủ trương, đường lối và chỉ đạo các cơ quan Nhà nước tổ chức thực hiện đường lối đối ngoại, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.
- Quá trình bình thường hóa: Các giai đoạn lịch sử cụ thể nhằm từng bước tháo gỡ rào cản, dỡ bỏ lệnh cấm vận và thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa hai quốc gia.
- Phát triển quan hệ: Sự chỉ đạo của Đảng nhằm mở rộng, nâng cấp hợp tác song phương trên nhiều lĩnh vực (chính trị, kinh tế, an ninh, văn hóa, khoa học) sau khi đã bình thường hóa.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp cận theo hướng định tính lịch sử:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện các sự kiện ngoại giao, chủ trương của Đảng và hành động của Hoa Kỳ theo đúng trình tự thời gian và bối cảnh lịch sử cụ thể.
- Phương pháp lôgic: Phân tích, khái quát bản chất của tiến trình điều chỉnh đường lối đối ngoại, tìm ra mối liên hệ nhân quả giữa bối cảnh quốc tế và các quyết sách chính trị.
- Phương pháp bổ trợ: Phân tích văn bản chính trị, tổng hợp tư liệu, thống kê lịch sử và so sánh lịch sử.
Nguồn tư liệu
- Văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam (Văn kiện các kỳ Đại hội IV, V, VI, VII, VIII, IX, X; các nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị) và bài viết của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao (Phạm Văn Đồng, Võ Văn Kiệt, Trần Đức Lương, Nguyễn Cơ Thạch, Phan Hiền, Lê Mai).
- Tài liệu chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ: Các văn bản luật của Quốc hội Mỹ, báo cáo phân tích, sách xuất bản và phát biểu của các Tổng thống Gerald Ford, Jimmy Carter, Ronald Reagan, George H.W. Bush, Bill Clinton, George W. Bush.
- Các công trình nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo khoa học trong và ngoài nước; các tài liệu chuyên khảo của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự và Thông tấn xã Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Đảng lãnh đạo quá trình bình thường hóa quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1976 - 1995)
Khái quát quan hệ trước năm 1976 và bối cảnh sau năm 1975
Văn bản điểm lại các mốc tiếp xúc lịch sử từ năm 1787 (cuộc gặp giữa Hoàng tử Cảnh và Thomas Jefferson tại Paris); chuyến tàu buôn Fame của thuyền trưởng Jeremind Briggs ghé cảng Đà Nẵng năm 1802; các chuyến công du của Edmund Roberts năm 1832 và 1835; vụ việc tàu Constitution năm 1845; sứ mệnh ngoại giao của Bùi Viện năm 1873. Trong giai đoạn 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động hợp tác với cơ quan OSS và gửi nhiều công hàm tới Tổng thống Harry Truman nhằm thiết lập quan hệ nhưng không được đáp lại. Sau năm 1947, Hoa Kỳ triển khai các chiến lược ngăn chặn, trả đũa ồ ạt, phản ứng linh hoạt và học thuyết Nixon tại Việt Nam. Đỉnh điểm năm 1969, quân số Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương lên tới 90 vạn quân với 230 căn cứ, chi phí quân sự đạt 81,2 tỉ USD (chiếm hơn 40% ngân sách Mỹ).
| Chỉ tiêu thống kê sau chiến tranh tại Việt Nam |
Số lượng / Mức độ thiệt hại |
| Số người thiệt mạng và thương tật trên cả nước |
Hàng triệu người chết; khoảng 6 triệu người tàn tật, nhiễm chất độc hại |
| Đô thị miền Bắc bị phá hủy hoàn toàn |
12 thị xã và 51 thị trấn |
| Xã miền Bắc bị đánh phá |
4.000 / 5.788 xã (trong đó 30 xã bị san phẳng hoàn toàn) |
| Cơ sở hạ tầng công nghiệp, giao thông miền Bắc |
Toàn bộ khu công nghiệp, nhà máy điện, đường sắt, 100% cầu cảng bị đánh phá |
| Nông nghiệp và thủy lợi miền Bắc |
1.600 công trình thủy lợi hư hại; 40.000 trâu bò bị giết hại |
| Cơ sở giáo dục, y tế miền Bắc |
3.000 trường học, 350 bệnh viện bị đánh phá (10 bệnh viện bị san phẳng) |
| Chỉ tiêu kinh tế của Hoa Kỳ giai đoạn 1973 - 1989 |
Số liệu ghi nhận trong văn bản |
| Suy giảm sản xuất công nghiệp và GNP thời kỳ suy thoái |
Sản xuất công nghiệp giảm 13,8%; GNP sụt giảm 7,8% |
| Tỷ lệ lạm phát kinh tế Mỹ |
9% (1973), 12% (1974), 40% (1976), 14% (1980) |
| Số lượng người thất nghiệp tại Mỹ |
6,5 triệu người năm 1978 (giai đoạn 1974-1975 có lúc lên tới 8,5 triệu người) |
| Tỷ trọng kinh tế Mỹ trong tổng sản phẩm thế giới |
Chiếm gần 40% (1945-1950), giảm xuống còn 23% vào cuối thập niên 1980 |
| Quy mô nợ nước ngoài của Hoa Kỳ |
263 tỉ USD năm 1988, tăng lên 285 tỉ USD năm 1989 |
Diễn biến quan hệ giai đoạn 1976 - 1986
Đại hội IV của Đảng (12/1976) xác định chủ trương sẵn sàng thiết lập quan hệ bình thường với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi. Ngày 15/5/1975, Hoa Kỳ áp đặt lệnh cấm vận toàn diện và 3 lần phủ quyết Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc (1975-1976). Dưới thời Tổng thống Jimmy Carter, kế hoạch bình thường hóa 3 điểm được đưa ra; phái đoàn Leonard Woodcock đến Hà Nội vào tháng 3/1977. Ngày 20/9/1977, Việt Nam chính thức gia nhập Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, Quốc hội Mỹ đã thông qua điều khoản ngăn cấm viện trợ, bác bỏ cam kết 3,25 tỷ USD tái thiết của cựu Tổng thống Nixon.
Từ năm 1978, Việt Nam chủ động bỏ điều kiện ràng buộc về viện trợ tái thiết trong đàm phán (phát biểu của Thứ trưởng Phan Hiền tháng 7/1978). Tuy nhiên, quan hệ xấu đi do Hoa Kỳ trục xuất Đại sứ Đinh Bá Thi (2/1978), xung đột biên giới Tây Nam, việc Việt Nam ký Hiệp ước hữu nghị với Liên Xô (11/1978) và Mỹ bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (10/1978). Trong giai đoạn 1979-1986, Washington liên kết với ASEAN thực thi chính sách bao vây cấm vận, gắn vấn đề bình thường hóa với việc rút quân khỏi Campuchia và vấn đề tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích (POW/MIA). Phía Việt Nam nhất quán coi MIA là vấn đề nhân đạo và tiến hành nhiều đợt trao trả.
| Năm thực hiện |
Số lượng hài cốt và tang vật MIA trao trả cho Hoa Kỳ |
| Tháng 3/1977 |
Trao trả hài cốt của 11 binh sĩ Mỹ |
| Năm 1983 |
Trao trả 92 hài cốt và 9 tang vật (không có hài cốt) |
| Năm 1984 |
Trao trả 5 hài cốt lính Mỹ |
| Năm 1985 |
Trao trả 32 trường hợp (26 trường hợp có hài cốt, 6 trường hợp không có hài cốt) |
Năm 1985, Việt Nam cam kết nỗ lực giải quyết vấn đề MIA trong 2 năm, đón tiếp các đoàn nghị sĩ và quan chức ngoại giao - quốc phòng Mỹ (tháng 1/1986), đồng thời tạo điều kiện cho phóng viên truyền hình và đoàn 80 doanh nhân Mỹ sang khảo sát thực địa.
Thúc đẩy hợp tác tiến tới bình thường hóa (1986 - 1995)
Hoa Kỳ áp dụng nhiều công cụ pháp lý cấm vận chống Việt Nam: Luật mở rộng các hiệp định thương mại (TAEA 1951), Quy chế kiểm soát tài sản nước ngoài (FACR), Tu chính án Jackson - Vanik (1974), xếp Việt Nam vào "Nhóm Z" (cấm toàn bộ xuất khẩu từ Mỹ). Từ Đại hội VI (1986), Đảng lãnh đạo công cuộc Đổi mới, tháo gỡ khó khăn kinh tế:
| Sản phẩm công nghiệp Việt Nam |
Tốc độ tăng trưởng / Sản lượng ghi nhận (1986 - 1990) |
| Điện, xi măng, thiếc |
Tăng bình quân 10 - 11% mỗi năm |
| Thép |
Tăng bình quân 8% mỗi năm |
| Dầu thô khai thác |
Tăng từ 40.000 tấn (năm 1986) lên 2,7 triệu tấn (năm 1990) |
Việc Việt Nam rút toàn bộ quân tình nguyện khỏi Campuchia (1989), ký Hiệp định Paris về Campuchia (1991) cùng những nỗ lực phối hợp khai quật MIA đã từng bước tháo gỡ các điều kiện của Mỹ. Tháng 2/1994, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam. Ngày 11/7/1995 (giờ Washington, tức 12/7/1995 giờ Hà Nội), hai nước chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
Chương 2. Đảng lãnh đạo phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1996 - 2006)
Chủ trương của Đảng qua các kỳ Đại hội
- Đại hội VIII (1996): Đề ra định hướng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, mở rộng hợp tác với các nước lớn, từng bước xây dựng lòng tin chính trị với Hoa Kỳ.
- Đại hội IX (2001) và Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX (2003): Xác định rõ khái niệm "đối tác" và "đối tượng", chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, coi trọng quan hệ với các nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.
- Đại hội X (2006): Khẳng định đường lối đưa các mối quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững.
Đẩy mạnh quan hệ chính trị, ngoại giao và an ninh, quốc phòng
- Ngoại giao cấp cao: Tổng thống Bill Clinton thăm chính thức Việt Nam (11/2000). Tháng 6/2005, Thủ tướng Phan Văn Khải thăm chính thức Hoa Kỳ, hai bên ra Tuyên bố chung xác lập khuôn khổ quan hệ đối tác xây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi. Tháng 11/2006, Tổng thống George W. Bush thăm Việt Nam nhân dịp Hội nghị Thượng đỉnh APEC tại Hà Nội.
- Hợp tác an ninh và nhân đạo: Phối hợp giải quyết hậu quả chiến tranh (chất độc da cam/dioxin, rà phá bom mìn, tiếp tục tìm kiếm MIA); triển khai các cuộc đối thoại nhân quyền định kỳ nhằm thu hẹp bất đồng; hợp tác chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia sau sự kiện 11/9/2001.
Đẩy mạnh quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư
- Hiệp định Thương mại song phương (BTA): Ký kết ngày 13/7/2000 tại Washington và chính thức có hiệu lực từ ngày 10/12/2001. BTA mở đường cho hàng hóa Việt Nam tiếp cận thị trường Mỹ với mức thuế suất giảm từ mức trung bình 40% xuống còn 3-4%.
- Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR): Tháng 12/2006, Quốc hội Hoa Kỳ chính thức thông qua áp dụng PNTR đối với Việt Nam, chấm dứt cơ chế xem xét gia hạn MFN hàng năm theo Tu chính án Jackson-Vanik, tạo điều kiện quyết định để Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào đầu năm 2007.
- Khoa học, giáo dục và y tế: Thành lập Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF), thúc đẩy trao đổi học thuật, hợp tác y tế phòng chống dịch bệnh và xử lý môi trường.
Chương 3. Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử
Nhận xét chung
- Thành tựu: Đảng đã lãnh đạo phá vỡ hoàn toàn thế bao vây cấm vận, chuyển quan hệ từ cựu thù thành đối tác; tạo lập môi trường quốc tế hòa bình để phát triển kinh tế; giữ vững định hướng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Hạn chế và trở ngại: Tồn tại sự khác biệt căn bản về hệ thống chính trị và ý thức hệ; Hoa Kỳ vẫn sử dụng chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền", "tôn giáo" để can thiệp vào công việc nội bộ; các tranh chấp thương mại (vụ kiện chống bán phá giá cá tra, cá basa, tôm) và rào cản kỹ thuật gây khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam.
Bài học kinh nghiệm lịch sử
- Kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ: Giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia và định hướng xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm mục tiêu tối cao.
- Nắm bắt thời cơ và dự báo chiến lược: Đánh giá đúng xu thế vận động của bối cảnh quốc tế và những điều chỉnh chiến lược của các nước lớn để kịp thời đưa ra quyết sách phù hợp.
- Vận dụng sách lược ngoại giao linh hoạt: Thực hiện phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến", kết hợp giữa kiên định nguyên tắc chiến lược với sự linh hoạt, mềm dẻo về mặt sách lược.
- Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh: Vừa hợp tác trên các lĩnh vực có lợi ích chung, vừa kiên quyết đấu tranh chống các hành vi xâm phạm chủ quyền, can thiệp nội bộ hoặc áp đặt điều kiện chính trị.
- Giải quyết vấn đề lịch sử bằng tinh thần nhân đạo: Chủ động hợp tác giải quyết vấn đề POW/MIA và hậu quả chiến tranh nhằm xây dựng lòng tin, tạo cầu nối thúc đẩy quan hệ chính trị - kinh tế.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Làm rõ một cách hệ thống sự phát triển trong tư duy đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Hoa Kỳ từ thời kỳ đấu tranh chống bao vây cấm vận sang thời kỳ bình thường hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Hệ thống hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng về việc xử lý mối quan hệ với một nước lớn tư bản chủ nghĩa, làm sáng tỏ lý luận về đối tác - đối tượng trong điều kiện toàn cầu hóa.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Dựng lại toàn diện tiến trình lịch sử 30 năm (1976-2006) quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ các cuộc tiếp xúc ban đầu, các vòng đàm phán tháo gỡ cấm vận đến việc ký kết BTA và thông qua PNTR.
- Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử có căn cứ khoa học phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Lịch sử Ngoại giao Việt Nam.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Tiếp tục hoàn thiện phương sách đối ngoại với Hoa Kỳ, tăng cường nghiên cứu hệ thống pháp luật, cơ chế vận hành chính sách của Quốc hội và Chính phủ Mỹ.
- Tận dụng tối đa các khuôn khổ kinh tế đã ký kết để mở rộng thị trường, đồng thời nâng cao năng lực pháp lý cho các cơ quan và doanh nghiệp nhằm phòng ngừa rủi ro tranh chấp thương mại.
- Duy trì đối thoại thẳng thắn về các vấn đề còn bất đồng (nhân quyền, tôn giáo) trên nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án dừng mốc khảo sát ở thời điểm tháng 12/2006 khi Quốc hội Mỹ thông qua PNTR và Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO. Do đó, các bước phát triển quan hệ sau năm 2006 (như khuôn khổ Đối tác toàn diện năm 2013) chưa được phản ánh trong công trình này.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong giai đoạn từ sau năm 2006 đến nay, tập trung vào việc triển khai các cơ chế hợp tác an ninh biển, chuỗi cung ứng công nghệ và ứng phó với các biến động địa chính trị khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Thế giới, Quan hệ Quốc tế, Chính trị học; cán bộ làm công tác nghiên cứu chiến lược và hoạch định chính sách đối ngoại.
- Nội dung tham khảo:
- Chương 1 là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về nghệ thuật đàm phán ngoại giao, quy trình tháo gỡ cấm vận và cách thức giải quyết vấn đề nhân đạo hậu chiến (POW/MIA).
- Chương 2 cung cấp cứ liệu cho các nghiên cứu về đàm phán hiệp định thương mại song phương (BTA), quy chế PNTR và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Chương 3 cung cấp luận cứ lịch sử về phương pháp kết hợp "hợp tác và đấu tranh" trong quan hệ quốc tế của Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao tác giả luận án lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 1976 đến năm 2006?
Năm 1976 là thời điểm đánh dấu sự thống nhất đất nước về mặt Nhà nước tại Việt Nam và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng được tổ chức, lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Năm 2006 là thời điểm Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn áp dụng Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam vào tháng 12/2006, đánh dấu việc quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia chính thức được bình thường hóa hoàn toàn.
2. Những công cụ pháp lý cấm vận chủ yếu nào đã được Hoa Kỳ áp đặt đối với Việt Nam sau năm 1975?
Hoa Kỳ áp dụng hệ thống cấm vận dựa trên các văn bản pháp luật:
- Luật mở rộng các hiệp định thương mại (TAEA 1951) không cấp quy chế MFN cho các nước cộng sản.
- Quy chế kiểm soát các tài sản nước ngoài (FACR) phong tỏa tài sản tài chính của Việt Nam.
- Tu chính án Jackson - Vanik (1974) ràng buộc quy chế thương mại với vấn đề tự do xuất cảnh.
- Xếp Việt Nam vào "Nhóm Z" chịu lệnh cấm vận xuất khẩu toàn diện và gây sức ép lên các tổ chức tài chính quốc tế (WB, IMF, ADB) nhằm ngăn chặn các khoản vay tái thiết kinh tế.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện quan điểm chỉ đạo như thế nào đối với vấn đề POW/MIA trong giai đoạn 1976 - 1986?
Đảng chủ trương tách bạch vấn đề bình thường hóa quan hệ (vấn đề chính trị) với vấn đề tìm kiếm lính Mỹ mất tích POW/MIA (vấn đề nhân đạo). Việt Nam nhất quán coi MIA là hoạt động nhân đạo xuất phát từ truyền thống dân tộc, duy trì cơ quan chuyên trách tìm kiếm thuộc Bộ Quốc phòng từ năm 1981, trao trả hàng chục đợt hài cốt lính Mỹ và cho phép chuyên viên Mỹ tham gia khảo sát thực địa mà không đặt điều kiện chính trị đi kèm.
4. Mốc xác lập khuôn khổ quan hệ đối tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong giai đoạn nghiên cứu diễn ra vào thời điểm nào?
Tháng 6/2005, trong chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải, hai bên đã ra Tuyên bố chung chính thức xác lập khuôn khổ quan hệ mới: "Quan hệ đối tác xây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi".
5. Những bài học kinh nghiệm lịch sử lớn nhất được luận án đúc kết là gì?
Luận án đúc kết 5 bài học kinh nghiệm: Giữ vững độc lập tự chủ và kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa; nắm bắt xu thế thời đại để có quyết sách ngoại giao kịp thời; vận dụng sách lược linh hoạt "dĩ bất biến, ứng vạn biến"; xử lý hài hòa mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh; chủ động giải quyết các di sản chiến tranh bằng tinh thần nhân đạo nhằm tạo nền tảng xây dựng lòng tin song phương.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Anh Cường đã phục dựng có hệ thống và toàn diện tiến trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác đối ngoại với Hoa Kỳ trong giai đoạn 1976 - 2006. Công trình làm rõ các giai đoạn chuyển biến từ đối đầu, vượt qua bao vây cấm vận tiến tới bình thường hóa quan hệ năm 1995 và mở rộng hợp tác toàn diện về kinh tế, chính trị đến năm 2006. Các luận điểm, số liệu lịch sử và 5 bài học kinh nghiệm được luận án tổng kết là nguồn tư liệu có giá trị khoa học cho việc nghiên cứu lịch sử Đảng và công tác đối ngoại của Việt Nam.