phần Mở đầu (18 trang), Kết luận (4 trang), Mục lục (3 trang), Danh mục công trình của tác giả liên quan đến đề tài của luận án (1 trang), Tài liệu tham khảo (28 trang), Phụ lục (76 trang).2006) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2006) CHƢƠNG 1 QUÁ TRÌNH BÌNH THƢỜNG HÓA QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI HOA KỲ (1976-1995) 1. Những đòi hỏi mới và quá trình cải thiện quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1976-1986) 1. Khái quát quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trước năm 1976 Năm 1787 tại Pari - thủ đô nƣớc Pháp, cuộc gặp gỡ giữa Hoàng tử Cảnh đang theo Giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) trong chuyến đi sang cầu viện vua Pháp và đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Thomas Jefferson đã mở ra mốc lịch sử đầu tiên đánh dấu quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ. Cuộc gặp này xuất phát từ mong muốn của Thomas Jefferson có đƣợc giống lúa cạn nổi tiếng đang gieo trồng trên quê hƣơng Hoàng tử Cảnh để góp phần cải tạo môi trƣờng sinh thái, mang lại ấm no, hạnh phúc cho ngƣời dân vùng ngập nƣớc quê ông.
Đáng tiếc là mãi tới năm 1791 Giám mục Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh mới về tới Nam Kỳ. Những lời ƣớc hẹn giữa Hoàng tử Cảnh và Jefferson đã không đƣợc thực hiện. Năm 1802, công ty Crowninshield of Salem, Massachusetts đã phái một chiếc tàu mang tên Fame do thuyền trƣởng Jeremind Briggs chỉ huy tới Việt Nam tìm kiếm nguồn hàng mới là đƣờng và cà phê. Đây là chiếc tàu biển đầu tiên của Mỹ cập hải cảng Việt Nam.
Ngày 21 tháng 5 năm 1802 tàu Frame tới cảng Đà Nẵng.Briggs đến Huế xin Nhà vua cấp cho giấy phép buôn bán tại tất cả các hải cảng của Việt Nam, và Nhà Vua đã đồng ý. Tháng 6 năm 1803, tàu Frame rời Việt Nam đi Manilla (Philippin). Nhƣng không hiểu tại sao thuyền trƣởng J. Briggs đã không trở lại buôn bán ở Việt Nam nữa, mặc dù cơ hội tốt đẹp này đã đƣợc hé mở dƣới thời Gia Long.
Năm 1832, chiếc tàu quân sự Peacok đã chở đoàn ngoại giao Mỹ đầu 20 (LUAN.2006) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2006) tiên do Edmund Roberts dẫn đầu chính thức đến thăm Việt Nam. Trong chuyến đi này, Tổng thống Mỹ Andrew Jackson đã giao nhiệm vụ cho đoàn ngoại giao đàm phán về hiệp định thƣơng mại với Việt Nam. Song, đề nghị đàm phán với Việt Nam đã không đƣợc Triều đình nhà Nguyễn chấp nhận. Năm 1835, Roberts trở lại Việt Nam để tiếp tục công việc bị bỏ dở.
Nhƣng lần này, đang trong quá trình đàm phán về các hiệp định hợp tác thƣơng mại thì ông bị ốm nên buộc phải rời khỏi Việt Nam và mất ở Ma Cao ngày 12-6-1836 khi các thoả thuận vẫn chƣa xong. Năm 1845, hạm đội Mỹ Constitution, một bộ phận của sƣ đoàn Đông Ấn thuộc hải quân Mỹ dƣới sự chỉ huy của thuyền trƣởng John Pereiral đã cập bến tại bờ biển Đà Nẵng. Hạm đội này đã gây ra một số hành động quá khích mà cho đến bốn năm sau, Tổng thống Mỹ Zachary Taylor phải viết thƣ tới “Hoàng đế nƣớc Anam” hối tiếc: “tôi rất đau lòng khi đƣợc biết 4 năm trƣớc đây thuyền trƣởng Pereival đã cho quân đổ bộ lên đất liền ở vịnh Turan, bắn nhầm vào thần dân của ngài, giết và làm bị thƣơng một số ngƣời…”. [290] Sau những cuộc tiếp xúc này, trong thời kỳ nhà Nguyễn, ngƣời Mỹ đã không trở lại Việt Nam thêm lần nào nữa.
Điểm chung nhất của các chuyến đi đó là sự chuẩn bị chu đáo của những ngƣời có trách nhiệm và có thiện ý. Vì thế, sự thất bại của các chuyến đi đến Việt Nam hẳn thuộc về phía triều đình Huế. Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng chính thức tiến hành xâm lƣợc Việt Nam. Trƣớc nguy cơ ngày càng mất nhiều đất cho Pháp, tháng 7-1873, vua Tự Đức cử Bùi Viện, một nhà Nho thức thời và năng động đi công cán ở Hƣơng Cảng.
Ở đây, ông có dịp tiếp xúc với viên lãnh sự Mỹ và đƣợc giới thiệu đến Mỹ gặp Tổng thống. Vì thế, ông đáp tàu sang Mỹ nhằm kêu gọi Mỹ giúp đỡ Việt Nam đánh Pháp. Nhƣng vì chƣa có quốc thƣ của vua Tự Đức ủy quyền nên mọi thỏa ƣớc chƣa thể ký kết. Bùi Viện gấp rút trở về nƣớc báo 21 (LUAN.2006) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2006) cáo và đƣợc Tự Đức giao quốc thƣ ủy quyền tức tốc lên đƣờng.
Nhƣng khi tới Mỹ thì Tổng thống Hoa Kỳ Olyses S.Grant đã mất, Tổng thống mới Rutherford Hayes từ chối không nhận giúp đỡ Việt Nam. Trong thời gian nƣớc Việt Nam là thuộc địa của Pháp, mặc dù Mỹ có đặt Lãnh sự quán tại Sài Gòn và Hà Nội, nhƣng họ vẫn bàng quan với Đông Dƣơng. Mãi cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ Hai bùng nổ (1939), Chính phủ Mỹ mới bắt đầu có những chính sách chú ý tới Đông Dƣơng. Đặc biệt, khi cuộc chiến tranh Thái Bình Dƣơng nổ ra, Mỹ coi Đông Dƣơng là một địa bàn quan trọng để ngăn chặn những âm mƣu của Nhật Bản.
Từ đó, chính phủ Mỹ mà trƣớc hết là Tổng thống Franklin Roosevelt bắt đầu suy nghĩ những chính sách đối với Đông Dƣơng và hình thành những ý đồ thiết lập chế độ tƣơng lai cho Đông Dƣơng khi chiến tranh kết thúc. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai gần kết thúc, Tổng thống Roosevelt thƣờng nhắc đến chế độ quản trị quốc tế đối với Đông Dƣơng sau chiến tranh và chống lại việc Pháp dùng vũ lực tái chiếm Đông Dƣơng để lập lại chế độ thực dân. Những quan điểm của ngƣời đứng đầu nƣớc Mỹ lúc bấy giờ, về khách quan có lợi cho cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam. Với tầm nhìn xa trông rộng, khả năng phân tích và nắm bắt tình hình cực kỳ nhạy bén, chủ tịch Hồ Chí Minh rút ra kết luận: phải chủ động tranh thủ sự đồng tình của Mỹ thêm bạn đồng minh cho cách mạng, tìm kiếm và hình thành mối quan hệ nhất định với Mỹ để cách mạng Việt Nam có một vị trí trong phe Đồng minh chống phát xít, tạo ra thế hợp pháp về mặt quốc tế cho Chính quyền cách mạng và triệt để phân hoá hàng ngũ chủ nghĩa đế quốc.
Từ tháng 3 năm 1945 đến khi Tổng thống Mỹ Roosevelt chết (12-4- 1945), mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Minh diễn ra thân thiện. Hai bên giúp đỡ nhau một cách nhiệt thành. Ngƣời Mỹ đã cung cấp cho Việt Minh một số vũ khí, thuốc men bằng thả dù xuống khu căn cứ Việt Bắc hoặc đƣa tới Nam 22 (LUAN.2006) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2006) Ninh (Trung Quốc) để Việt Minh chuyển về nƣớc, đánh Nhật. Còn Việt Minh đã cung cấp cho OSS (Office of Strategic Services - tổ chức tình báo Mỹ trong thời gian Chiến tranh thế giới II) những tài liệu cực kỳ quan trọng về quân đội Nhật, giúp họ thành lập một hệ thống radio suốt từ Hà Nội vào Sài Gòn phù hợp với kế hoạch của OSS.
Sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, với cƣơng vị là Chủ tịch và Bộ trƣởng Bộ Ngoại giao chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã tìm cách thiết lập quan hệ với chính phủ Hoa Kỳ bằng những công hàm, thƣ, điện gửi Tổng thống H. Truman và ngoại trƣởng G. Trong tất cả các văn kiện chính thức đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của Hoa Kỳ. Suốt 16 tháng, khởi đầu từ bức thƣ của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ngày 29-9-1945 và khép lại buổi tiếp Vụ trƣởng Vụ Đông Nam Á của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ A.
Moffat ngày 7-12- 1946 tại Phủ Chủ Tịch - Hà Nội, Hồ Chí Minh đã nỗ lực thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ song không đƣợc hồi đáp. Thời đó, Chính phủ Hoa Kỳ xuất phát từ lợi ích của nƣớc mình và từ những định kiến sai lầm và thiển cận về Chính phủ nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã im lặng trƣớc những đòi hỏi chính đáng của Việt Nam. [291] Chính phủ Mỹ do Truman đứng đầu đã dần dần ủng hộ Pháp quay trở lại chiếm đóng Đông Dƣơng. Họ đã quyết định chọn con đƣờng giúp Pháp để rồi tự mình lao vào “một cuộc chiến tranh làm mất lòng ngƣời và gây chia rẽ nhất trong thế kỷ của lịch sử nƣớc Mỹ”.
24] Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ vƣợt lên về sức mạnh vật chất - kỹ thuật và quân sự, đã nhảy ra đóng vai trò sen đầm quốc tế hòng cứu vãn chế độ tƣ bản chủ nghĩa đang trong cơn nguy biến. Do đó Mỹ cần phải có một chiến lƣợc chỉ đạo mọi hoạt động trên các lĩnh vực để thực hiện âm mƣu bá quyền của mình. Đó là chiến lƣợc toàn cầu mà đế quốc Mỹ thực hiện. Chính 23 (LUAN.2006) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2006) vì thế từ năm 1947-1975 quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ chịu sự tác động toàn diện của chiến lƣợc này.
Từ năm 1947, Mỹ thi hành “chiến lƣợc ngăn chặn” với mục tiêu chặn đứng “sự bành trƣớng của cộng sản”, bao vây Liên Xô, chống lại phong trào giải phóng dân tộc. Chiến lƣợc này dựa trên độc quyền vũ khí nguyên tử của Mỹ và đặt trọng tâm là Tây Âu, nơi mà Pháp có vị trí rất quan trọng. Vì vậy, Mỹ cố gắng tranh thủ Pháp. Đây là nhân tố quyết định chính sách của Mỹ đối với cuộc chiến tranh xâm lƣợc của Pháp ở Đông Dƣơng, chuyển từ chỗ lúc đầu không ủng hộ đến chỗ ra tay giúp Pháp bằng viện trợ kinh tế và quân sự.
Ở Đông Nam Á, Mỹ coi Đông Dƣơng có vị trí then chốt và chủ trƣơng cần thiết phải ngăn chặn sự “bành trƣớng” của chủ nghĩa cộng sản ở đây. Chiến lƣợc ngăn chặn của Mỹ ở Đông Nam Á bắt đầu hình thành và Đông Dƣơng trở thành tâm điểm của chiến lƣợc này. Nó chi phối và chỉ đạo sự dính líu ngày càng sâu của Mỹ, đi đến can thiệp thẳng vào cuộc chiến tranh xâm lƣợc của Pháp ở Đông Dƣơng. Vào đầu những năm 1950, dù đƣợc Mỹ tăng thêm viện trợ với khối lƣợng lớn, và quân đội Pháp cũng đã có nỗ lực rất lớn nhằm giành thắng lợi áp đảo trƣớc “Việt Minh”, song họ vẫn không có đƣợc chút chiến thắng nào để tạo thế mặc cả cho sự rút lui trong danh dự khỏi Đông Dƣơng.
Cuối cùng, với thất bại cay đắng ở Điện Biên Phủ, Pháp đã phải ký kết Hiệp định Geneve năm 1954 và rút quân về nƣớc.