Chương 1 những cơ sở dé đảng cộng sản việt nam quyết định thiết lập quan hệ việt nam - apec 1. bối cảnh thế giới, khu vực (1989 - 1998) và nhận thức của đảng ta. Khái quát tình hình thế giới, khu vực. Từ cuối thập kỷ 80, các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc.
Sang đến đầu thập kỷ 90, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đồ, đã dẫn đến những biến đổi cơ bản nền chính trị thế giới và quan hệ quốc tế. Trật tự thế giới được hình thành từ sau chiến tranh thế giới thứ hai trên cơ sở hai khối đối lập do Liên Xô và Mỹ đứng đầu (trật tự hai cực) tan rã, mở ra thời kỳ quá độ hình thành một trật tự thế giới mới. Một đặc điểm lớn trên chính trường quốc tế sau khi Liên Xô tan rã là việc Mỹ, với vi trí siêu cường duy nhất về kinh tế, chính trị và quân sự, có ý đồ muốn thiết lập một trật tự thế giới mới dưới sự chi phối của họ (thế giới một cực).Các nước lớn (kế cả những đồng minh của Mỹ) dau tranh mạnh mẽ nhằm xác lập vai trò, vị thế của mình đối với khu vực và thế giới nhằm ngăn cản Mỹ thực hiện ý đồ xây dựng trật tự thế giới đơn cực. Xu hướng đa cực hoá chính trị đang trở thành xu thế phổ biến của thế giới đương đại.
Trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, các quốc gia, đặc biệt là các nước vừa và nhỏ, các tô chức và lực lượng chính trị quốc tế đều thực hiện điều chỉnh chiến lược đối nội, đối ngoại và phương thức hành động cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ bên trong và xu thế phát triển của thế giới, nhằm giành được những lợi ích cao nhất, hạn chế sự thua thiệt, sự đối xử bất bình đăng. Biểu hiện nổi bật của xu thế điều chỉnh chiến lược là các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ và tự lực tự cường, chủ động trong việc tìm kiếm con đường phát triên của mình. 18 Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, thế giới tồn tại những điểm nóng, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột, tranh chấp. Sau chiến tranh lạnh tình trạng này vẫn còn, nhưng xu thế chung của thế giới là hoà bình, hợp tác và phát triển.
Từ năm 1988, Đảng ta đã dự đoán đúng diễn biến của tình hình thế giới, Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khoá VI (5/1988) nhận định: Các nước lớn, kề cả những nước có tiềm lực mạnh, buộc phải giảm chạy đua vũ trang hạt nhân và chỉ phí quốc phòng, giảm cam kết về quân sự ở bên ngoài và dàn xếp với nhau về các van dé khu vực dé tập trung vào củng có bên trong, chạy dua ráo riết về kinh tế và khoa hoc kỹ thuật nhằm tạo ra một nên kinh tế phát triển cao vào cuối thé kỷ này. Xu thé dau tranh và hợp tác trong cùng tôn tại giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau ngày càng phat triển [143, tr 7]. Thời kỳ chiến tranh lạnh, sự phân biệt, đối đầu, thù địch về ý thức hệ, về chế độ chính trị - xã hội là cơ sở cho sự tồn tại của thế giới hai cực và là nhân tố chi phối lớn đến quan hệ quốc tế, đặc biệt là quan hệ Bắc - Nam. Sau chiến tranh lạnh, việc tập hợp lực lượng không còn cơ bản dựa trên lăng kính ý thức hệ tư tưởng, chính trị mà chủ yếu dựa trên lợi ích chung của các quốc gia, của khu vực và toàn cầu.
Những van đề như ô nhiễm môi trường, buôn ban ma tuý, hiểm hoạ SIDA và khủng bố quốc tế, đều ảnh hưởng đến an ninh, phát triển của các nước, không ké là nước lớn hay nhỏ. Dé giải quyết những van đề toàn cầu, các quốc gia phải nỗ lực hợp tác cùng hành động. Cuộc chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước, nhất là những nước đang phát triển phải đôi mới tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế; mở rộng và tăng cường liên kết, hợp tác với các nước tư bản phát triển phương Tây dé tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ, mở rộng thị trường, học tập kinh nghiệm tổ chức, quản ly sản xuất kinh doanh. 19 Trên lĩnh vực kinh tế, việc Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiến hành cải tổ, đôi mới, từ bỏ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, xây dựng nền kinh tế thị trường.
Như vậy, cho đến đầu thập kỷ 90, kinh tế thị trường toàn cầu hoá dựa trên công nghệ cao ngày càng trở thành xu thé phổ biến của nền kinh tế thế giới, là hành trang của nhân loại bước vào thiên niên kỷ mới. Sau chiến tranh lạnh, các nước đã đôi mới tư duy về quan niệm sức mạnh, vị thé quốc gia. Thay thế cách đánh giá cũ, chủ yếu dựa vào sức mạnh quân sự bằng các tiêu chí tổng hợp, trong đó sức mạnh kinh tế và khoa học công nghệ được đặt ở vị trí quan trọng nổi bật. Và vì vậy, cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia chuyển từ hình thức chạy đua vũ trang, tăng cường sức mạnh quân sự trong chiến tranh lạnh sang hình thức cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Quan hệ quốc tế từ thế đối đầu chuyển dần sang đối thoại, hợp tác và cạnh tranh. Khu vực châu á - Thai Bình Dương sau sự kiện Liên Xô tan rã và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đỗ Vài nét về khu vực châu á - Thái Bình Dương Theo các công trình nghiên cứu thì thuật ngữ châu á - Thái Bình Dương mới được sử dụng rộng rãi từ cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, để chỉ một x z z ^ ` : re 1 * khu vực bao gôm các nước thuộc vành dai Thai Bình Duong. * Theo quan điểm này thì gồm 39 nước và vùng lãnh thổ: Về phía Tây Bắc Thái Bình Dương có: nước Nga, Trung Quốc, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật Bản, và vùng lãnh thổ Đài Loan, Hồng Kông. Tây Nam Thái Bình Dương có: Việt Nam, Lào, Cămpuchia, Mianma, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, Xingapo, Philippin, Brunây.
Nam Thái Bình Dương có: ôxtrâylia, Niu Dilan, Papua Niughinê, đảo Cúc, Phigi, Kiribati, Hipue, Xalômôn, Tonga, Micronesia. Đông Bắc Thái Bình Dương có Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Canađa. 20 Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho răng châu á - Thái Bình Dương là khu vực gồm tat cả các nước châu 4 và các quốc gia thuộc lòng chảo Thái Bình Duong, với tong số 80 nước và vùng lãnh thé [98, tr 3] và [107, tr 354-356]. Như vậy trên thực tế, khái niệm châu á - Thái Bình Dương gắn liền với những biến động về kinh tế, chính trị, nên có phạm vi rộng, hẹp khác nhau tuỳ theo góc độ xem xét trên các lĩnh vực địa tự nhiên, địa kinh tế hay địa chính trị.
Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi cho rằng việc xác định khái niệm khu vực châu á - Thái Bình Dương bao gồm các quốc gia và lãnh thô thuộc vùng vành đai và vùng lòng chảo Thái Bình Dương là hợp lý. Châu á - Thái Bình Dương là khu vực địa lý rộng lớn với đại dương Thái Bình Dương chiếm trên một nửa diện tích biển của trái đất. Biển Đông và Thái Bình Dương có tiềm năng lớn về khoáng sản và hải sản, đặc biệt là về dầu mỏ và khí đốt. Có trên một ngàn loài cá, có các ngư trường nước nóng (chiếm một nửa ngư trường nước nóng thế giới).
Đây là khu vực rất đa dạng về địa lý, diện tích, dân sô, và các điêu kiện tự nhiên khác. Các nước khu vực châu á - Thái Bình Dương, đặc biệt là các quốc gia châu á thuộc vành đai Thái Bình Dương, thời cô đại chịu anh hưởng sâu sắc của những nền văn minh lớn: Trung Hoa, ấn Độ. Nơi đây sớm có mặt các tôn giáo lớn: Phật giáo, ấn Độ giáo, sau đó là Hôi giáo (đạo ixlam), Thiên chúa giáo và các tôn giáo ấy trở thành Quốc giáo ở một số nước như Thái Lan (Phật giáo); Brunây (Hồi giáo); Philippin (Thiên chúa giáo). Sự tác động mạnh mẽ của tôn giáo đã ghi dấu ấn sâu đậm vào đời sống cư dân, góp phần tạo nên sự thông nhất trong đa dạng về văn hoá khu vực.
Đông Nam Thái Bình Dương có các nước thuộc Trung và Nam Mỹ là Mêhicô, Nicaragoa, Goatêmala, ondurat, ensanvado, Panama, Côlômbia, Ecuado, Pêru, Chilê [89, tr 9]. 21 Vào thời cận dai, phần lớn quốc gia trong khu vực bị các nước tư ban châu Âu xâm lược. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triên mạnh mẽ và nhiêu quôc gia độc lập ra đời. Về thê chế chính trị trong khu vực gồm hai nhóm sau: nhóm nước Xã hội chủ nghĩa như: Việt Nam, Trung Quốc; nhóm nước Tư bản chủ nghĩa như: Mỹ, Canada, ôxtrâylia.
Trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia trong khu vực châu á - Thái Bình Dương hết sức đa dạng. Có những nước công nghiệp phát triển hàng đầu thé giới như: Mỹ, Nhật Bản, Canada; các nước và vùng lãnh thé công nghiệp mới như: Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Xingapo; những nước đang trong quá trình công nghiệp hoá như: Inđônêxia, Malaixia, Thai Lan, Philippin, Trung Quốc, và có những nước trình độ phát triển thấp như các nước Đông Dương và Mianma. Bởi vậy, GDP bình quân đầu người giữa các quốc gia trong khu vực cũng rât khác nhau”. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, châu á - Thái Bình Dương là nơi hội tụ các mâu thuẫn lớn của thế giới, là khu vực nóng bỏng và xung đột vũ trang kéo dai.
Bước vào thập ky 80, khu vực châu á - Thái Bình Duong đi dần vào trạng thái hoa bình, 6n định, được dư luận thé giới coi là khu vực tương đối yên tĩnh, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, xu thế hợp tác trong khu vực ngày càng phát triển. Trên cơ sở đó vai trò, vị trí của khu vực châu á - Thái Bình Dương ngày càng được nâng cao trên trường quôc tê. Sự đa dạng về địa lý, tộc người, tôn giáo, văn hoá; sự khác nhau về lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia trong khu vực châu á - Thái Bình Dương, là cơ sở để các nước hoạch định chính sách đối Ÿ Xin xem thêm phụ lục 2 22 ngoại thích hợp nhằm bao đảm hiệu quả cho tiến trình hợp tác kinh tế, giao lưu văn hoá, xã hội với khu vực.