Lời mở đầu: Trong chương này tôi sẽ trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và tính mới của đề tài và cuối cùng là kết cấu của luận văn. Chương II. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trong chương này tôi trình bày về cơ sở lý thuyết, mô hình nghiên cứu, các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trong và ngoài nước về mô hình trọng lực trong thương mại quốc tế, đồng thời xây dựng các giả thuyết nghiên cứu. Tôi nghĩ rằng đây là những vấn đề nền tảng và cần thiết trình bày để giúp người đọc có thể hiểu nội dung các chương kế tiếp dễ dàng hơn.
Chương III. Thiết kế nghiên cứu: Trong chương này tôi trình bày mô hình kinh tế lượng, đồng thời trình bày phương pháp nghiên cứu. Tôi tiến hành so sánh các phương pháp khác nhau để lựa chọn mô hình thích hợp cho phân tích. Trong phần cuối của chương, tôi cung cấp chi tiết nguồn và dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu này.
123doc 9 Chương IV. Phân tích kết quả nghiên cứu: Trong chương này tôi trình bày tổng quan tình hình xuất-nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và các nước TPP. Sau đó, tôi sẽ tiến hành phân tích và đánh giá các kết quả có được để rút ra kết luận cho các giả thuyết nghiên cứu. Những giải pháp đẩy mạnh dòng thương mại giữa Việt Nam và các nước TPP: Chương này trình bày về tổng quan tình hình chung trong thời gian tới và những giải pháp nhằm đẩy mạnh dòng thương mại giữa Việt Nam và các nước tham gia đàm phán Hiệp định TPP.
Kết Luận: Trong phần này này tôi tóm tắt lại những kết quả chính của nghiên cứu, đồng thời chỉ ra ý nghĩa của nghiên cứu đối với các nhà làm chính sách. Cuối cùng, tôi trình bày những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất một số định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. 123doc 10 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Tham gia TPP chúng ta sẽ đối mặt với nhiều cơ hội cũng như thách thức. Điều quan trọng là chúng ta phải xem các thách thức đó là sức ép buộc chúng ta phải đổi mới và cải cách nhanh hơn và mạnh hơn.
Do vậy, việc xác định nhân tố nào tác động mạnh, nhân tố nào tác động nhẹ để từ đó đề xuất các kiến nghị giải pháp với các cơ quan hữu năng và doanh nghiệp là cơ sở để nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập. Điều này, nếu được thực hiện tốt, chính là kết quả lớn nhất mà TPP và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung mang lại cho đất nước ta. 123doc 11 CHƢƠNG 2. CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Ngày nay, các quốc gia ngày càng liên kết chặt chẽ thông qua thương mại.
Các nước phát triển và đang phát triển đang dần gỡ bỏ những hàng rào kỹ thuật nhằm đẩy mạnh quan hệ thương mại với phần còn lại của thế giới, trong đó xuất-nhập khẩu hàng hóa là một phần rất quan trọng. Những cụm từ như mậu dịch tự do, tự do hóa thương mại dần trở nên phổ biến và được đề cập thường xuyên trên các bản tin hàng ngày. Chúng ta có thể đặt ra một số câu hỏi cơ bản như: Tại sao các nước lại giao thương với nhau? Phải chăng mọi quốc gia đều có lợi từ thương mại quốc tế? Làm sao tính được độ lớn thương mại giữa các nước? Để trả lời những câu hỏi đó thuyết thương mại cổ điển (lý thuyết lợi thế tuyệt đối, lý thuyết lợi thế so sánh, mô hình Hecksher-Ohlin) và thuyết thương mại hiện đại đã ra đời và giải thích rất thành công cho câu hỏi đầu tiên. Tuy nhiên, các lý thuyết này lại không thể đưa ra lời giải thích thỏa đáng cho câu hỏi thứ hai và câu hỏi thứ ba.
Một đột phá lớn trong nền kinh tế học hiện đại đó là bằng việc sử dụng các nguyên lý tương tự như nguyên lý trong định luật vạn vật hấp dẫn của Isaac Newton, các nhà kinh tế học với nhiều công trình xuất sắc đã cùng nhau xây dựng một lý thuyết mới có tên gọi là mô hình trọng lực (lực hấp dẫn) trong thương mại quốc tế (Thai Do Tri, 2006). Lý thuyết tuyệt vời này đã giải thích rất thành công cho câu hỏi về khối lượng cũng như chiều hướng thương mại song phương giữa các quốc gia và đưa đến rất nhiều áp dụng thực tiễn. Trong chương này tôi sẽ trình bày những vấn đề căn bản nhất của lý thuyết mô hình trọng lực trong thương mại quốc tế, nội dung của chương sẽ là nền tảng lý luận cho những chương kế tiếp. Nghiên cứu lý thuyết về mô hình trọng lực trong thƣơng mại quốc tế Lý thuyết về mô hình trọng lực trong thương mại quốc tế được xây dựng dựa trên Định luật vạn vật hấp dẫn của Isaac Newton trong cơ học cổ điển, trong đó định luật của Newton phát biểu rằng lực hút của hai vật thể tỉ lệ thuận với tích khối lượng của hai vật thể, đồng thời tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng.
Cụ thể định luật này được thể hiện qua công thức sau đây: 123doc 12 MiM j Fij G. Dij 2 (Tinbergen, 1962) (1) Trong đó: Fij: Trọng lực giữa hai vật. G: Hằng số hấp dẫn. Mi, Mj: Khối lượng của hai vật.
Dij: Khoảng cách giữa hai vật. Định luật của Newton được áp dụng để giải thích cho sự vận động của mọi vật thể trong vũ trụ. Điểm thú vị là định luật này vẫn đúng khi áp dụng cho thương mại quốc tế. Lý thuyết về mô hình trọng lực trong thương mại quốc tế lần đầu tiên được Jan Tinbergen sử dụng vào năm 1962 nhằm đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do FTA tới dòng chảy thương mại giữa các nước.
Công thức của Jan Tinbergen có dạng như sau: Yi Y j X ij A Dij (Tinbergen, 1962) (2) Trong đó: Xij: Xuất khẩu từ quốc gia i sang quốc gia j. A: hằng số tỷ lệ Yi: GDP của quốc gia i. Yj: GDP của quốc gia j. Dij: Khoảng cách địa lý giữa các trung tâm kinh tế hoặc khoảng cách giữa các thủ đô của quốc gia i và j được đo lường bằng đường biển hoặc đất liền.
Tinbergen lưu ý rằng mức độ tác động trực tiếp giữa biến giải thích và biến được giải thích không nhất thiết phải làm rõ. Vì vậy, các số mũ , , có những giá trị khác so với phương trình (1). Chúng đề cập đến độ co giãn của GDP của nước xuất khẩu (), độ co giãn của GDP của nước nhập khẩu () và độ co giãn của quãng 123doc 13 đường (). Khi = = 1 và = 2, phương trình (2) sẽ tương đương với phương trình vạn vật hấp dẫn của Isaac Newton.
Kết quả nghiên cứu của Tinbergen chỉ ra rằng khoảng cách địa lý có tác động tiêu cực trong khi biến GDP lại có tác động tích cực đến dòng thương mại giữa hai nước. Như vậy, các quốc gia với nền kinh tế có quy mô càng lớn và khoảng cách càng gần nhau thì có xu hướng mậu dịch với nhau càng nhiều. Ban đầu, do chưa có căn cứ lý thuyết nền tảng nên mô hình của Tinbergen bị nhiều nhà khoa học phê phán (Thai Do Tri, 2006). Tuy nhiên sau đó, nhiều cơ sở lý thuyết đã ra đời để chứng minh cho sự đúng đắn của mô hình này.
Một trong những công trình đầu tiên đặt nền móng lý thuyết cho mô hình trọng lực được Linnemann đưa ra năm 1966, trong công trình này Linnemann (1966) đã chứng minh rằng phương trình trọng lực thực chất xuất phát từ mô hình cân bằng cục bộ. Cách chứng minh của Linnemann như sau: Sử dụng mô hình cân bằng cục bộ ông thấy rằng thương mại giữa hai nước i và j chịu tác động bởi nhóm nhân tố cung của nước i, nhóm nhân tố cầu của nước j và một số nhân tố cản trở hay hấp dẫn thương mại giữa hai nước i và j. Sau đó, ông cho cung, cầu xuất khẩu bằng nhau và thu được mô hình hấp dẫn trong thương mại quốc tế. Sự hạn chế trong chứng minh của Linnemann là việc ông phải sử dụng mô hình cân bằng cục bộ, một mô hình đã bị Bergstrand (1985) và các nhà nghiên cứu khác chỉ ra là không thể giải thích được dạng mở rộng của phương trình, đồng thời để lại một số tham số không được xác định rõ ràng do việc loại biến động giá cả.
Tuy nhiên, kết quả của Linnemann xứng đáng được ghi nhận vì với dạng đơn giản nhất của phương trình thì những biện luận loại trừ biến giá cả của Linnemann là hoàn toàn phù hợp. Một công trình khác đáng quan tâm là của Anderson (1979). Trong công trình này Anderson đã thiết lập phương trình trọng lực từ hàm chi tiêu với các tham số từ hàm Cobb-Douglas dựa trên giả định rằng các sản phẩm được đa dạng hóa từ chính quốc gia xuất xứ. Sau đó, Anderson đã phát triển mô hình của Tinbergen với những biến là giá trị tích số của các biến trong công thức của Tinbergen.
Tuy vậy, hạn chế trong mô hình của Anderson là ông phải thêm vào giả thiết về sự đồng nhất trong sở 123doc 14 thích tiêu dùng cũng như sự tương tự trong hệ thống thương mại và cấu trúc thuế giữa các nước. Một cách tiếp cận khác là của Bergstrand (1985, 1989) dựa trên mô hình cân bằng tổng thể1 do Léon Walras đề xướng. Trong khi những phân tích của Anderson dựa trên cơ sở kinh tế học vĩ mô thì Bergstrand lại chứng minh cơ sở lý thuyết của mô hình trọng lực bằng cách sử dụng lý thuyết kinh tế vi mô cho từng ngành. Tác giả chứng minh mô hình trọng lực chính là mô hình rút gọn cân bằng cục bộ của cân bằng tổng thể với các loại sản phẩm quốc gia khác biệt.
Theo ông, cung hàng một ngành của một quốc gia được tạo nên bởi hoạt động tối đa hóa lợi nhuận của các doanh nghiệp trong khi cầu hàng được tạo nên bởi hoạt động tối đa hóa độ thỏa dụng với giới hạn về ngân sách (tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng). Khi nền kinh tế ở trạng thái cân bằng thì cung bằng cầu và ta thu được mô hình hấp dẫn trong thương mại. Trong lập luận của Bergstrand (1985) bởi vì dạng rút gọn loại bỏ tất cả các biến nội sinh ra khỏi phần giải thích của mỗi phương trình nên thu nhập và giá cả cũng có thể được sử dụng như các biến giải thích cho thương mại song phương.