Chương 1: Giới thiệu về nghiên cứu Chương này giới thiệu tổng quát về bối cảnh nghiên cứu, tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương này cũng giới thiệu khái quát về phương pháp nghiên cứu, dữ liệu và tóm tắt những đóng góp chính của nghiên cứu trong học thuật và thực tiễn. Chương 2: Tổng quan lý thuyết về tỷ giá và năng lực cạnh tranh thương mại 8 Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về tỷ giá hối đoái và năng lực cạnh tranh thương mại quốc tế, phương pháp kinh tế lượng được sử dụng để điều tra mối quan hệ giữa tỷ giá và CCTM. Đồng thời, qua lược khảo các nghiên cứu trước về tỷ giá hối đoái và năng lực cạnh tranh thương mại, và các nghiên cứu đánh giá về ERER và mức sai lệch tỷ giá, nghiên cứu đã chỉ ra khoảng trống làm cơ sở phát triển câu hỏi và thực hiện nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu được sử dụng để đạt được 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, bao gồm đánh giá diễn biến của REER và CCTM, điều tra mối quan hệ dài hạn giữa REER và hoạt động thương mại quốc tế, ước lượng ERER và phân tích mức độ bất cân đối của tỷ giá thực trong giai đoạn nghiên cứu. Đồng thời, mô hình nghiên cứu cũng được diễn giải chi tiết về quy trình thực hiện. Dữ liệu nghiên cứu cũng được trình bày cụ thể hơn ở chương này. Chương 4: Xu hướng tỷ giá và hoạt động thương mại của Việt Nam giai đoạn 1992-2017 Chương này phân tích cơ chế tỷ giá của Việt Nam, các xu hướng diễn biến tỷ giá trong giai đoạn nghiên cứu, đặc biệt là xem xét diễn biến tỷ giá thực trong mối tương quan với năng lực cạnh tranh thương mại của Việt Nam.
Chương 5: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này trình bày và phân tích kết quả ước lượng mô hình thực nghiệm. Chương này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa tỷ giá thực và hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam, đồng thời cung cấp bằng chứng về mức độ sai lệch của tỷ giá thực trong giai đoạn 1992-2017. Chương 6: Kết luận và hàm ý 9 Chương này tóm tắt lại mục tiêu nghiên cứu, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu và kết quả nghiên cứu, từ đó đề tài đưa ra các hàm ý đối với chính sách tỷ giá của Việt Nam. 10 CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ TỶ GIÁ VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH THƯƠNG MẠI Mục tiêu của chương 2 là biện luận về sự cần thiết của đề tài trên cơ sở giới thiệu lý thuyết về tỷ giá và năng lực cạnh tranh thương mại cũng như lược khảo các nghiên cứu trước liên quan.
Việc lược khảo các nghiên cứu trước cũng giúp nhóm tác giả tham khảo và áp dụng mô hình nghiên cứu phù hợp. Chương 2 được cấu trúc như sau.1 trình bày nội dung cơ bản về tỷ giá hối đoái và năng lục cạnh tranh thương mại, trong đó chỉ rõ chỉ số tỷ giá thực đa phương REER là chỉ báo quan trọng về năng lực cạnh tranh thương mại của quốc gia.2 trình bày về chế độ tỷ giá và mục tiêu duy trì năng lực cạnh tranh thương mại, trong đó làm rõ các chính sách mà chính phủ có thể sử dụng nhằm đạt mục tiêu theo lý thuyết và thực tiễn. Mục kế tiếp khảo lược các nghiên cứu trước ở nước ngoài và Việt Nam trong hướng nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa tỷ giá và năng lực cạnh tranh thương mại. Trước khi kết thức chương, nghiên cứu biện luận sự cần thiết của nghiên cứu cũng như mục tiêu của nghiên cứu.1 Tỷ giá hối đoái và năng lực cạnh tranh thương mại Tác động của tỷ giá đến năng lực cạnh tranh thương mại Tỷ giá hối đoái là một biến số vĩ mô quan trọng đối với bất cứ nền kinh tế mở nào, là cầu nối quan trọng giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế ở nước ngoài.
Tỷ giá hối đoái phản ánh tương quan sức mua giữa nôi tệ và ngoại tệ. Theo phương pháp yết tỷ giá trực tiếp, tỷ giá hối đoái cho biết một đơn vị ngoại tệ có giá bằng bao nhiêu đơn vị ngoại tệ (Lê Phan Thị Diệu Thảo, Nguyễn Trần Phúc và ctg 2015). Thông qua tỷ giá, hàng hoá (và dịch vụ) thương mại sản xuất ở các quốc gia khác nhau có thể định giá bằng các đồng tiền khác nhau một cách dễ dàng. Trên thị trường hàng hoá quốc tế, các cá nhân và doanh nghiệp ở nước ngoài quyết định mua bao nhiêu hàng hoá dịch vụ sản xuất ở một quốc gia không phụ thuộc vào giá tính theo đồng tiền của quốc giá đó mà phụ thuộc vào giá tính theo ngoại tệ.
Tương tự, các các nhân và doanh 11 nghiệp trong nước quyết định mua bao nhiêu hàng hoá dịch vụ sản xuất ở nước ngoài không phụ thuộc vào giá tính bằng ngoại tệ mà phục thuộc vào giá tính bằng nội tệ. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá hối đoái luôn được đăng tải và cập nhật rõ ràng trên phương tiện truyền thông, giúp các các nhân và doanh nghiệp lựa chọn các hàng hoá (dịch vụ) có giá cạnh tranh nhất có thể trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Điều này cũng hàm ý rõ ràng rằng khi tỷ giá thay đổi, tương quan sức mua giữa các đồng tiền thay đổi và nó làm thay đổi năng lực cạnh tranh thương mại của các hàng hoá dịch vụ sản xuất ở các quốc gia khác nhau. Hay nói cách khác, tỷ giá hối đoái là yếu tố quan trọng tác động đến năng lực cạnh tranh thương mại của hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia trên thị trường hàng hoá quốc tế, có thể ảnh hưởng nhanh đến xuất khẩu ròng của một quốc gia.
Đối với một nền kinh tế mở, xuất khẩu ròng là một bộ phận cấu thành nên tổng sản phẩm quốc nội, một biến số vĩ mô đo lường tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, tỷ giá hối đoái được xem là một công cụ vĩ mô quan trọng trong điều hành nền kinh tế. Trong mô hình Mundell-Fleming – một mô hình sử dụng để phân tích tính hiệu quả của các chính sách tiền tệ và tài khoá của các chính phủ, tỷ giá hối đoái đươc xem là công cụ vĩ mô quan trọng mà chính phủ có thể sử dụng để tác động làm dịch chuyển các đường IS và LM (xem Pilbeam 1998). Tỷ giá danh nghĩa song phương Tuy nhiên, các tỷ giá được công bố hàng ngày trên các phương tiên truyền thông, được báo giá hoặc niêm yết bởi các ngân hàng thương mại – các chủ thể chủ yếu tham gia tạo thị trường trên thị trường ngoại hối, là các tỷ giá danh nghĩa song phương.
Một tỷ giá danh nghĩa song phương thay đổi chỉ phản ánh ở một mức độ nhất định tương quan năng lực cạnh tranh thương mại giữa hàng hàng hoá sản xuất ở một quốc gia với một đối tác thương mại trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, có thể tác động đến chu thuyển thương mại song phương. Tuy nhiên, một nền kinh tế mở có quan hệ thương mại với nhiều đối tác khác nhau. Vì vậy, tỷ giá song phương không phải tốt sự thay đối giá trị của một đồng tiền. Ví dụ, tỷ giá VND/USD tăng lên (VND giảm giá so với USD ) làm cho hàng hoá thương mại sản xuất ở Việt Nam cạnh tranh 12 hơn ở Mỹ.
Tuy nhiên, nếu trong khi đó tỷ giá VND/CNY giảm xuống (VND tăng giá so với CNY) thì hàng hoá thương mại sản xuất ở Việt Nam lại trở nên kém cạnh tranh hơn so với hàng hoá thương mại sản xuất ở Trung Quốc. Do vậy, khi phân tích sự thay đổi giá trị của một đồng tiền và tương quan năng lực cạnh tranh thương mại quốc tế của nó, chỉ số tỷ giá danh nghĩa đa phương có ý nghĩa hơn tỷ giá danh nghĩa song phương. Tỷ giá danh nghĩa đa phương Chỉ số tỷ giá danh nghĩa đa phương – Nominal effective exchange rate (NEER) - là một chỉ số trung bình gia quyền của các chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương của một đồng tiền với các đồng tiền của các đối tác thương mại. Có thể tính NEER cho đồng tiền của một quốc gia (quốc gia A) theo công thức trung bình cộng hoặc theo trung bình nhân lần lượt như sau (Moosa, 1998): NEER tính theo công thức trung bình cộng: , = = , NEER tính theo công thức trung bình nhân: , , , = , = , Các ký hiệu trong hai công thức trên biểu thị các đo lường như sau: là chỉ số tỷ giá song phương giữa đồng tiền của quốc gia A với đồng tiền i; là tỷ trọng thương mại của đồng tiền i trong rổ thương mại của quốc gia A; , là tỷ giá song phương giữa đồng tiền của quốc gia A và đồng tiền i tại thời điểm t và , là tỷ giá song phương giữa đồng tiền của quốc gia A và đồng tiền i tại kỳ cơ sở.
13 Chỉ số NEER tại kỳ cơ sở được xem là bằng 1 (hoặc 100). Theo phương pháp yết tỷ giá trực tiếp, nếu NEER tại kỳ t tăng nghĩa là đồng tiền của quốc gia A giảm giá danh nghĩa nói chung so với các đồng tiền khác trong rổ thương mại. Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi thì năng lực cạnh tranh của quốc gia A được xem là cải thiện. Ngược lại, theo phương pháp yết tỷ giá gián tiếp, nếu NEER tại kỳ t tăng nghĩa là đồng tiền của quốc gia A tăng giá danh nghĩa nói chung so với các đồng tiền khác trong rổ thương mại.
Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi thì năng lực cạnh tranh của quốc gia A được xem là bị giảm sút. Như phân tích ở trên, tỷ giá danh nghĩa thay đổi làm thay đổi tương quan sức mua của các đồng tiền trên thị trường hàng hoá quốc tế, có thể làm thay đổi năng lực cạnh tranh thương mại và vì vậy tác động đến chu chuyển thương mại. Tỷ lệ lạm phát ở một quốc gia gia tăng làm xói mòn sức cạnh tranh thương mại của hàng hoá quốc gia đó trên thị trường hàng hoá quốc và vì thế cũng tác động đến chu chuyển thương mại. Điều này hàm ý rằng đồng tiền của một quốc gia giảm giá do tỷ giá tăng chưa chắc đã giúp cải thiện năng lực cạnh tranh nếu quốc gia này đang trải qua thời kỳ lạm phát cao hơn tương đối so với các đối tác thương mại.