Chương 1: Trình bày cơ sở lý thuyết giải thích cho các vấn đề xoay quanh mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và quyết định đầu tư. Một số nghiên cứu thực nghiệm tại các thị trường nước ngoài về tác động của đòn bây tài chính đến quyết định đầu tư của công ty cũng được để cập đến trong. chương này. ~ Chương 2: Mô tả dữ liệu, xây dựng các giả thuyết và mô hình định lượng cũng như trình bày phương pháp nghiên cứu cụ thể.
~ Chương 3: Trình bày kết quả nghiên cứu và hàm ý - Kết luận: Trình bày ngắn gọn đóng góp, hạn chế của nghiên cứu và hướng phát triển đẻ tài trong tương lai. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Các nghiên cứu thực nghiệm trên nhiều thị trường khác cho thấy có nhiều ý kiến khác nhau về mối quan hệ giữa đòn bẫy tài chính và quyết định đầu tư của công ty. (¡) Trường phái thứ nhất cho thấy đòn bẫy tài chính và quyết định đầu tư có tương quan âm. Do thị trường là không hoàn hảo, tồn tại chỉ phí đại diện giữa các nhà quản lý, cô đông và chủ nợ nên đòn bẩy làm xuất hiện các vấn đề đầu tư dưới mức và đầu tư quá mức.
Công ty cảng sử dụng nhiều nợ vay thì ít có khả năng đầu tư vào các cơ hội có giá trị và họ có xu hướng đầu tư dưới mức làm giảm giá trị công ty. Ở một khía cạnh khác, đòn bẩy tài chính là một trong những công cụ giúp hạn chế đầu tư quá mức ở một số công ty. Các lập luận này được ủng hộ bởi các nghiên cứu của Lang & công sự (1996), Aivazian và các công sự (2005), Mohun Prasadising Odit, Hemant B.Ismail & các cộng sự (2009), Khursheed Ahmad & cộng sự (2011). Theo đó, tồn tại sự khác nhau trong mỗi quan hệ nghịch biến giữa đòn bẩy tài chính và đầu tư giữa các công ty có cơ hội tăng trưởng cao và công ty có cơ hội tăng trưởng thấp.
Vấn đề này lại có các quan điểm trái ngược nhau. Theo đó, quan điểm thứ nhất cho rằng mồi quan hệ nghịch biến giữa các công ty có ít cơ hội tăng trưởng là rõ rệt hơn các công ty có cơ hội tăng trưởng cao. Họ giải thích dựa vào chỉ số Tobin's Q đại diện cho cơ hội tăng trưởng của công ty, thể hiện khả năng tiếp cận nguồn vốn của phân khúc các công ty tăng trưởng cao và thấp. Quan điểm thứ hai thì ngược lại, họ cho rằng các công ty có cơ hội tăng trưởng cao có quan hệ nghịch biến giữa đòn bẩy tài chính và đầu tư lớn hơn so với các công ty có cơ hội tăng trưởng thấp.
(ii) Trường phái thứ hai lại cho rằng tồn tại mối quan hệ vừa thuận chiều, vừa nghịch chiều giữa đòn bẩy tài chính và quyết định đầu tư ở các công ty. Theo đó, các nghiên cứu cũng tiến hành phân nhóm các công ty dựa trên một số tiêu chí như cơ hội tăng trưởng, quy mô vốn. và kết quả mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và đầu tư ở các nhóm công ty là trái ngược nhau. Các nghiên cứu ủng hộ trường phái này như Seoungpil Ahn, David J.
Denis (2006), Franklin John. K (201 1) “Từ một loạt các bằng chứng thực nghiệm trên nhiều thị trường và trong. các giai đoạn thời gian khác nhau cho thấy mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và quyết định đầu tư của các công ty rất phức tạp. Hầu hết các nghiên cứu đều ủng hộ lập luận đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực đến quyết định đầu tư của công ty.
CHUONG 1 CO SO LY THUYET VA THUC TIEN 1. ĐÒN BẢY TÀI CHÍNH VA MOT SO LY THUYET VE CAU TRÚC VON 1.1, Don bay tai chính Khái niệm đòn bẩy tài chính thường dùng để chỉ sự kết hợp giữa ng phải trả và vốn chủ sở hữu trong việc điều hành chính sách tài chính của công ty. Một trong những ưu điểm lớn nhất của việc dùng nợ thay cho vốn chủ sở. hữu đó là lãi suất mà công ty phải trả trên nợ được miễn thuế.
Trong khi đó thì cổ tức hay các hình thức thưởng khác cho chủ sở hữu phải bị đánh thuế. Trên nguyên tắc mà nói, nếu chúng ta thay vốn chủ sở hữu bằng nợ thì sẽ giảm được thuế công ty phải trả, và vì thế tăng giá trị của công ty lên. Ưu điểm thứ hai của nợ, đó là nợ thường rẻ hơn vốn chủ sở hữu. Nói đơn giản là lãi suất ngân hàng, hay lãi suất trái phiếu thấp hơn nhiễu so với lãi suất kỳ vọng của nhà đầu tư.
Do đó khi tăng nợ tức là giảm chỉ phí chỉ ra trên một đồng tiền mặt và vì thế tăng cao lợi nhuận, cũng như giá trị của công ty. Về mặt tiêu cực, công ty càng nợ nhiều thì càng có nguy cơ cao mắt khả năng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Nói cách khác, nợ quá nhiều sẽ dẫn tới xác suất phá s và kiệt quê tài chính cao, Mặt khác, khi công ty vay nợ, chủ nợ và chủ sở hữu cổ phần của công ty có thể gặp phải những xung đột về quyền lợi. Chủ nợ có thể muốn công ty thực hiện các khoản đầu tư ít rủi ro hơn so với mong muốn của những người đầu tư vào cổ phiếu của công ty.
Một số lý thuyết về cấu trúc vốn “Theo Myers (2002), có một số lý thuyết chính về ấu trúc vốn của công. ty, bao gồm lý thuyết Modigliani Miller (1958), lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, lý thuyết vấn đề đại diện và lý thuyết trật tự phân hạng. Ly thuyét Modigliani - Miller (MM theory) Nền tảng của cấu trúc vốn hiện đại dựa trên những giả định của Miller va Modigliani (1958). Để chứng minh một lý thuyét kha thi, Modilligani và Miller đã đưa ra một số những giả định đơn giản hoá rất phố biến trong lý thuyết về tài chính: họ giả định là thị trường vốn là hoàn hảo, vì vậy sẽ không có các chỉ phí giao dịch và tỷ lệ vay giống như tỷ lệ cho vay và bằng với tỷ lệ vay miễn phí; việc đánh thuế được bỏ qua và nguy cơ được tính hoàn toàn bằng tính không ồn định của các luồng tiền.
Nếu thị trường vốn là hoàn hảo, MM tranh luận rằng thế thì các công ty có cơ hội kinh doanh giống nhau và tiền lãi mong đợi hàng năm giống nhau phải có tông giá trị giống nhau bất chấp cấu trúc vốn bởi vì giá trị của một công ty phải phụ thuộc vào giá trị hiện tại của các hoạt động của nó, không phải dựa trên cách thức cấp vốn. Từ đây, có thé rút ra rằng nếu tất cả những công ty như vậy có tiền lời mong đợi giống nhau và giá trị giống nhau cũng phải có WACC giống nhau ở mọi mức độ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu Thuyết MM là cơ sở nền tảng để các nhà kinh tế tìm tòi và phát triển các nghiên cứu tìm ra các nhân tố quyết định cấu trúc vốn tối ưu. Các mệnh đề của thuyết MM dựa vào các điều kiện của thị trường vốn hoàn hảo. Nhưng, trong thực tế, thị trường vốn dù vận hành tốt nhất cũng không thể hoàn hảo 100%.
Hơn nữa, trong thị trường vốn còn tồn tại các bất hoàn hảo khác như các nhà đầu tư phải chịu một khoản chỉ phí vốn với lãi suất khác nhau. Chính những bắt cập này đã hạn chế việc ứng dụng thuyết MM vào thực tiễn. Lý thuyết đánh đối cấu trúc vốn (Trade-ofƒ theory) Lý thuyết này nhằm mục đích giải thích vì sao các công ty thường sử dụng đòn bẩy tài chính để tai trợ cho hoạt động của mình. Một lý do lớn khiến các công ty không thé tai trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tắm chắn thuế từ nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chỉ phí, điển hình nhất là các chỉ phí kiệt quệ tài chính bao gồm cả chỉ phí trực tiếp lẫn chỉ phí gián tiếp của việc phá sản có nguyên nhân từ nợ.
Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tắm chắn thuế gia tăng thì chỉ phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng. Sẽ đến một lúc nào đó, khi mà với mỗi tỷ lệ nợ tăng thêm, hiện giá lợi ích từ tắm chắn thuế không cao hơn hiện giá chi phí kiệt qué tài chính thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ich cho công ty. Chính vì điều này, các công ty luôn tìm cách tối ưu hóa tổng giá trị công ty dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xác định nên lựa chọn bao nhiêu nợ và bao nhiêu vốn cô phần trong cấu trúc vốn của mình. © Lý thuyết vẫn dé đại dign (Agency problems theory) 'Vấn đề đại diện (agency problem), hay còn gọi là vấn đề chủ sở hữu và người đại diện, liên quan tới hai đối tượng chính.
Chủ sở hữu (principals) là chủ của các nguồn lực. Người đại diện (agents) la người được ủy quyển (được. thuê) của chủ sở hữu nguồn lực và được chủ sở hữu nguồn lực trao một số quyền quản lý nhất định đối với nguồn lực của người chủ sở hữu nhằm phục vụ lợi ích của chủ sở hữu. Tuy nhiên, chính việc uỷ quyển lại gây sự tách rời hay sự chia cắt quyền sở hữu và quyền quản lý một công ty.
Sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền quản lý công ty làm nảy sinh các mối lo ngại rằng, những người quản lý sẽ theo đuổi những mục tiêu rất hấp dẫn đối với họ, song chưa chắc đã có lợi cho các cô đông, cho công ty. Thuyết vấn đề đại diện đề cập tới những điểm công từ việc sử dụng nợ vay do công ty nhận được những, lợi ích từ ưu đãi thuế đối với phần nợ vay. Các công ty với các vấn đề đại diện lớn đầy tiềm năng (quyền sở hữu cô phần nội bộ của ban quản trị thấp, lợi ích cho nhà quản trị là cố định hay các công ty có tiền mặt thấp) sẽ tạo ra nhiều. lãi cho cỗ đông khi tăng nợ để đầu tư.
Chính vì vậy đã nảy sinh mâu thuẫn giữa nhà quản lý và các cô đông. Khi vay mượn để đầu tư có hiệu quả thì các nhà quản lý không được hưởng toàn bộ lợi nhuận từ hoạt động đó nhưng họ phải chịu toàn bộ chỉ phí cho hoạt động làm tăng lợi nhuận này. Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking-order theory) Nền tảng đầu tiên cho thuyết trật tự phân hạng là những nghiên cứu của Donaldson (1961).