CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYET VE NĂNG SUÁT LAO ĐỘNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Tác giả chủ yếu tập trung vảo hai loại tài liệu chính: (1) Nghiên cứu về năng suất lao động nói chung; (2) Nghiên cứu về cách tiếp cận và quan điểm hiệu quả trong lĩnh vực ngân hàng. Một số nghiên cứu về năng suất dịch vụ, năng suất lao động Học thuyết của C. Mác chỉ ra rằng giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động.
Giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động (năng suất lao động). Sức sản xuất của lao động càng lớn thì thời gian lao động cần thiết về mặt xã hội dé sản xuất ra một giá trị sử dụng cụ thể càng ít và giá trị của nó càng ít. Sự thay đổi về sức sản xuất làm tăng hiệu qua của lao động, do đó làm tăng lượng giá trị sử dụng do lao động đó mang lại và do đó làm giảm lượng giá trị của tổng khối lượng tăng lên. Năng suất lao động trong một ngành cụ thê được xác định bởi nhiều yếu tố, bao gồm: Trình độ lành nghề trung bình của người lao động và trình độ phát triển khoa học, ứng dụng khoa học, quy trình công nghệ, quá trình tổ hợp xã hội của sản xuất, quy mô và hiệu quả của tư liệu sản xuất, điều kiện tự nhiên.
Năm 1974, Ramsay giới thiệu hệ thống RAPMODS. Nó cung cấp một cách tiếp cận đáp ứng nhu cầu đo lường năng suất, lập ngân sách và tài trợ, kết hợp với các mục tiêu năng suất nhằm tăng và cải thiện năng suất của tô chức. Hệ thống này được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia khác nhau. Trong hệ thống RAPMODS không chỉ có công thức tinh chỉ số năng suất (chủ yếu bao gồm chỉ số năng suất và mức năng suất ) mà còn có công thức tương đương về tỷ lệ giữa các thành phần (đầu vào và đầu ra).
Từ đây, khi một yếu tố thay đôi, chúng ta cũng có thể dự đoán được sự thay đôi của các yếu tố còn lại và kiểm soát mục tiêu thiết kế cũng như triển khai thực tế. Điều này cho phép quản lý năng suất tốt hơn. Hệ thông RAPMODS có thé được coi là bao gồm hai bộ chỉ số và ba quy tắc được sử dụng rộng rãi bởi tất cả các loại hình công ty. Phương pháp Rapmods không chỉ dạy cách đo lường năng suất mà còn dạy cách lập kế hoạch cho các mục tiêu năng suất chung (RSO, ROI, TCE, TPM.) Bằng cách theo dõi kết quả thực té so với mục tiêu dự kiến, ban có thé lập kế hoạch đầu vào theo cách tối ưu dé đạt được mục tiêu dau ra.
Phương pháp này rất hiệu quả đối với các công ty trực tiếp sản xuất, nhưng lại khó áp dụng cho khối ngân hàng do đặc thù đòi hỏi sử dụng nhiều kỹ năng mềm nhân danh khối ngân hàng. Trong Tăng trưởng năng suất: Lý thuyết và đo lường, David T. Owyong (1998) đã chỉ ra vai trò và tam quan trọng của việc ứng dụng công nghệ trong tính toán năng suất nói chung và năng suất lao động nói riêng. Công việc này đảm bảo rằng các vấn đề về năng suất được đo lường và giải quyết một cách chính xác dé có thé thực hiện các bước phù hợp nhằm nâng cao năng suất nói chung va năng suất lao động nói riêng.
Từ quan điểm này, nên chuyên sang phương pháp tính toán dựa trên số giờ làm việc thực tế của người lao động, thay vì chia đầu vào lao động theo tiền lương trên mỗi người. Tiếp theo, tính toán sự thay đổi về số giờ làm việc cho từng công nhân một cách chính xác hơn. Petz (2012) xem xét 7 mô hình năng suất dịch vụ và phân loại chúng dựa trên 6 tiêu chí cụ thể: sự khác biệt trong cách tiếp cận, sự khác biệt giữa nhà cung cấp và người tiêu dùng, quy mô, thước đo định lượng, quy mô định tính, hiệu suất và hiệu quả của mô hình đang được đánh giá. Các tác giả đề xuất một mô hình năng suất dịch vụ phức hợp dựa trên cách tiếp cận giữa nhà cung cấp và khách hàng.
Mô hình này giải quyết các yếu tô ảnh hưởng đến năng suất dịch vụ và mối quan hệ giữa chúng. Mô hình được thử nghiệm trong một nghiên cứu điển hình của một công ty thiết kế và kỹ thuật nhà máy hóa chất. Kinfemichael (2019) xem xét sự hội tụ vô điều kiện của năng suất lao động trong lĩnh vực dịch vụ. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu về lĩnh vực dịch vụ của 95 quốc gia và cho thấy sự hội tụ vô điều kiện của năng suất lao động thực tế trong lĩnh vực dịch vụ.
Tổng ngành dịch vụ cho thấy hệ số hội tụ vô điều kiện lớn là -0,035 tìm thấy sự tôn tại của sự hội tụ vô điều kiện của các trường con riêng lẻ. Trong bối cảnh khu vực dịch vụ hiện đang phải đối mặt với sự cạnh tranh trong nước và quốc tế, sự ton tại của sự hội tụ vô điều kiện về năng suất lao động trong khu vực này không có gì đáng ngạc nhiên. Nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng về sự hội tụ vô điều kiện của tổng năng suất lao động với dữ liệu hiện có gần đây nhất. Sự hội tụ năng suất của khu vực dịch vụ dường như là một thành phần quan trọng của sự đảo ngược nảy.
Đo lường năng suất tại đoanh nghiệp Việt Nam đã được thực hiện từ rất lâu, tuy nhiên đo lường năng suất theo cách tiếp cận mới đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ. Trong sách kinh tế học nguồn nhân lực, Tran Xuân Cầu (2009) dành một phần nghiên cứu về năng suất lao động. Nghiên cứu này thê hiện rõ khái niệm năng suất lao động và tầm quan trọng của việc tăng năng suất lao động, chỉ ra các chỉ tiêu năng suất lao động sau đây: Các chỉ tiêu về loại, gia tri, mục tiêu theo số giờ làm việc. Điểm nổi bat của giáo trình này là làm rõ các nhân tô và điều kiện nâng cao năng suất lao động.
Điều này bao gồm trình độ thiết bị kỹ thuật của doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng công nghệ và thiết bị, năng lượng làm việc, tổ chức lao động va sản xuất, đào tạo và nâng cao trình độ của nhân viên, cải thiện thành phần nhân sự. Các yếu tố bên ngoài bao gồm: Có sự thay đổi về thiết kế và chi phí lao động, mức độ hợp tác giữa các tô chức, điêu kiện tự nhiên, v. Lê Văn Hùng (2018), Luận án tiến sĩ kinh tế, Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động ở Việt Nam. Công việc được tô chức lý thuyết, phản ánh kinh nghiệm quốc tế và đánh giá các yếu tô ảnh hưởng đến năng suất lao động.
Tác giả đã đo lường mối quan hệ giữa thay đổi cơ cau và năng suất lao động bằng mô hình kinh tế lượng có tên là phương pháp tỷ lệ thay đổi mở rộng và kết hợp các ham sản xuất dé đo lường tác động của các yếu tố sản xuất. Sau khi lượng hóa tác động của từng nhân tố, nhóm tác giả xác định nguyên nhân hạn chế tăng năng suất lao động của Việt Nam. Trên cơ sở những nhận xét này, nhóm tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng suất lao động ở Việt Nam một cách bền vững. Bài viết này tuy phân tích chỉ tiết các yếu tổ ảnh hưởng đến NSLĐ nhưng chỉ nhằm nghiên cứu tác động của các yếu tô kinh tế đến NSLĐ ở Việt Nam mà chưa đánh giá tác động của các yếu tố xã hội và môi trường một cách tập trung.
Hơn nữa, công trình này mới chỉ xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của nền kinh tế ở tầm vĩ mô. Đặng Thái Bình, Đồng Thị Thùy Linh, Nguyễn Thị Hiền (2019), Nghiên cứu “Năng suất lao động trong doanh nghiệp - Nhìn từ góc độ mới”. Bài viết này đánh giá năng suất lao động của Việt Nam giai đoạn 2010-2015 và so sánh với một số nước trong khu vực. Năng suất lao động khu vực doanh nghiệp được xác định có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động của nền kinh tế.
Bài viết này đưa ra một cách tiếp cận mới về năng suất lao động. Thước đo TFP về năng suất lao động chưa tính đến sự đóng góp của các yếu tô như vốn, lao động và năng lượng. Việc sử dụng kết hợp TFPR và TFQR giải thích rằng việc cải thiện năng suất lao động không chỉ do hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp mà còn thúc day các khía cạnh khác của phía cầu. Thay vì đổi mới cách quản lý, sử dụng công nghệ mới và tận dụng tôt hơn các nguôn lực đâu vào đê tăng năng suât lao động, các công ty với cách tiếp cận mới tập trung đầu tư vào nhu cầu của nhân viên được phỏng đoán.
Nghiên cứu đã cho thấy một cách tiếp cận hoàn toàn mới về năng suất lao động, nhưng vẫn chưa có giải pháp nào được đề xuất cho các doanh nghiệp, thường chỉ dành cho các doanh nghiệp nhỏ.2 Một số nghiên cứu về NSLD trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Angadi và Devraj (1983) đã đo lường năng suất của các ngân hàng Ấn Độ trong giai đoạn 1970-1980, sử dụng tiền gửi và cho vay làm chỉ số đầu ra, chi phí ban đầu là chỉ số đầu vào và lợi nhuận từ chi phí ban đầu được tính toán. Kết qua cho thay năng suất trên toàn hệ thống ngân hàng giảm đáng kể từ năm 1970 đến năm 1975. Nghiên cứu của Singh (1992) xem xét xu hướng năng suất của 14 ngân hàng khu vực công lớn của An Độ từ năm 1969 đến năm 1985. Xu hướng năng suất, những thay đổi và sự khác biệt giữa các ngân hàng và nhóm ngân hàng khác nhau được kiểm tra băng cách sử dụng 17 chỉ số như tiền gửi, khoản vay, doanh thu va chi phí khởi nghiệp.
Kết qua cho thấy rằng các Ngân hàng Nhà nước của Ấn Độ trong dân số nghiên cứu đang tiếp tục cải thiện hiệu suất của họ. Nó có số điểm trung bình cao nhất ké từ năm 1977. Các tác giả khuyến nghị các ngân hàng thành lập các nhóm năng suất dé phát triển và thực hiện các chương trình năng suất. Nghiên cứu cũng dự đoán răng thông tin về năng suất sẽ trở thành một phần trong báo cáo hàng năm của các ngân hàng.
Möïrttinen (2002) đã điều tra hiệu quả hoạt động của ngân hàng và năng suất lao động của sáu ngân hang châu Âu.