Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và co sở lí luận về tạo động lực cho người lao động Chương 2. Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chương 3. Thực trạng tạo động lực cho người lao động tại Ngân hàng thương mại cô phần Sài Gòn Công Thương Chương 4.
Một số giải pháp tạo động lực cho người lao động tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương CHUONG 1 TONG QUAN TINH HiNH NGHIEN CUU VA CO SO LY LUẬN VE TAO DONG LUC CHO NGƯỜI LAO DONG 1. Téng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghién cứu nước ngoài Trên thế giới tạo động lực làm việc cho người lao động (NLĐ) được quan tâm từ lâu. Có rất nhiều các công trình nghiên cứu được nhiều tác giả nghiên cứu ở nước ngoài.
Năm 1943, Maslow đã đưa ra tháp nhu cầu là một trong những lý thuyết quan trọng nhất của quản trị kinh doanh và được ứng dụng nhiều nhất trong quản tri nhân sự. Theo Maslow, nhu cầu của con người chia ra làm hai nhóm: nhu cầu bậc thấp và nhu cầu bậc cao. Các nhu cầu sinh vật học và an ninh, an toàn được coi là cấp thấp. Các nhu cầu xã hội, tự nhiên và tự thê hiện được coi là cấp cao.
Đây là nhu cầu cần thiết là các nhu cầu để sinh tồn của con người như thức ăn, nước uống, ngủ, nghỉ ngơi. Đây là nhu cầu thiết yêu của con người, nếu không đáp ứng được những nhu cầu nay thì con người không thể tồn tại được. Đề tài nghiên cứu “Tạo động lực thúc đây nhân viên ở khu vực công: các công cụ ứng dụng trong thực tiễn ”của tác giả Re’em (2010) hướng đến việc tìm ra các nhân tố lý thuyết và các chiến thuật đề áp dụng ở thực tế giúp nhà quản lý khu vực công tạo động lực làm việc cho nhân viên của mình. Động lực làm việc đóng vai trò rất quan trọng đối với kết quả công việc của người lao động mà động lực làm việc lại là vân đê của môi cá nhân.
Vì vậy, tác giả đã khuyến nghị nhà quản lý nên sử dụng các cách tạo động lực cho từng cá nhân và từng hoàn cảnh của tô chức. Marc Buelens & Herman Van Den Broeck (2007), “Phân tích sự khác biệt trong động lực làm việc giữa những tô chức ở khu vực công và khu vực 29 tư”. Nghiên cứu được thực hiện nhăm tìm ra sự khác biệt của người lao động ở khu vực công và khu vực tư nhân. Tình hình nghiên cứu trong nước Trong quá trình hội nhập toàn cầu hóa hiện nay, các doanh nhiệp Việt Nam đang đứng trước sự canh tranh vô cùng gay gắt từ các doanh nghiệp (DN) nước ngoài.
Vấn đề tạo động lực được quan tâm nhiều hơn ở trong nước vì cạnh tranh thành công thì việc nâng cao năng suất lao động của nhân viên là yếu tố quyết định. Các nghiên cứu về tạo động lực trong nước chủ yếu là các giáo trình về quản trị nguồn nhân lực, các nghiên cứu khoa học, các luận văn thạc sĩ, tiên sĩ vê tạo động lực. Thứ nhất, về giáo trình hay được sử dụng trong quản trị nguồn nhân lực là cuốn “Quản trị nguồn nhân lực” của Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2007). Trong cuốn sách này, vấn đề tạo động lực làm việc được hai tác giả viết thành một chương riêng.
Tác giả đã làm rõ khái niệm về tạo động lực làm việc cho người lao động, các yếu tố ảnh hưởng, va một số học thuyết cơ bản như học thuyết nhu cầu Maslow, học thuyết về kỳ vọng, học thuyết công bang. Đồng thời, cuốn sách còn đưa gợi ý phương pháp tao động lực cho người lao động. Một cuốn giáo trình nữa là cuốn “Quản trị nguồn nhân lực” của tác giả Hà Văn Hội (2008) cũng hệ thống một cách tương đối chỉ tiết đầy đủ về tạo động lực. Thứ hai, vê các nghiên cứu khoa học nghiên cứu về tạo động lực cho người lao động có thê kê đên các công trình nghiên cứu như: Nghiên cứu của Hoàng Thị Hồng Lộc và Nguyễn Quốc Nghỉ (2014) “ Xây dựng khung lý thuyết về động lực làm việc ở khu vực công tại Việt Nam”.
Bài viết này được 12 thực hiện nhằm xây dựng một khung lý thuyết phục vụ cho mục đích nghiên cứu các nhân tố chính ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên ở khu vực công (cán bộ công chức, viên chức) tại Việt Nam. “Ứng dụng mô hình định lượng đánh giá mức độ tạo động lực làm việc cho nhân viên công ty trách nhiệm hữu hạn Ericsson tại Việt Nam” của tác giả Trương Minh Đức đăng tại tạp chí khoa học đại học Quốc gia Hà Nội, kinh tế và kinh doanh 27 (2011, trang 240 -247). Đề tài nghiên cứu tập trung vào phân tích các van đề chính: cơ sở lý thuyết của tạo động lực và phương pháp nghiên cứu van dé thực tế của doanh nghiệp.Đề tai đã chỉ ra các nhân tô cơ bản ảnh hưởng tới mức độtạo động lực làm việc của nhân viên tại công ty Ericsson trách nhiệm hữu hạn tại Việt Nam. Nhân tố đầu tiên là nhân tốvật chất và điều kiện làm việc, nhân tố tiếp theo là khuyến khíchđộng viên và đảm bao an toàn trong công việc, nhân tô cuối cùng thuộc về mong muốn thé hiện năng lực.
“Đổi mới chính sách đãi ngộ của các doanh nghiệp Việt Nam thời kỳ hậu gia nhập WTO”, Tạp chí khoa, chuyên san Kinh tế và Kinh doanh, số 3, 2011 của PGS. Bài viết "Vai trò của lương và thu nhập như là động lực thúc đây tăng trưởng kinh tế bền vững” của Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Trung tâm Thông tin — Dữ liệu (CIEM) (2012) đưa ra thông tin: lương và thu nhập là động lực thúc đây tăng trưởng một cách bền vững. Sau đó bài viết đánh giá các ưu, nhược điêm, các thắc mặc vê chính sách tiên lương hiện nay ở trong nước. Từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị phù hợp hơn.
Trong những năm gân đây có rat nhiêu luận văn thạc sĩ việt vê tạo động lực cho người lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam như: Luận văn thạc sĩ của tác giaNguyén Thùy Linh(2016) “Tạo động lực cho người lao động tại Công ty cô phần đầu tư xây dựng hạ tầng Hồng Hà”. Trong luận văn, tác giả đã phân tích nhu cầu của sự thỏa mãn, phát triển nhu cầu mới nhằm tăng động lực của người lao động. Luận văn chỉ được ra ưu, nhược điểm của các hoạt động tạo động lực cho người lao động được áp dụng vào thực tế tại công ty cô phần dau tư xây dựng hạ tang Hồng Hà từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề khó khăn hiện tại của công ty trong lĩnh vực bất động sản. Luận văn thạc sĩ của tác giả Xà Thị Bích Thủy (2011) “Hoàn thiện công tác tạo động lực tại Ngân hàng thương mại cô phần Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh Đắc Lắc” đã đưa ra những vấn đề cơ bản về động lực và tạo động lực cho người lao động tại doanh nghiệp.
Tác giả nêu lý thuyết về tạo động lực cho người lao động bằng việc sử dụng yếu tổ kích thích vật chất và sử dụng yêu tô kích thích tinh thần. Tác giả phân tích thực trạng công tác tạo động lực của Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Vietcombank — Chi nhánh Đaklak: các yếu tổ ảnh hưởng tạo động lực lao động từ môi trường bên trong và môi trường bên ngoài. Qua đó, luận văn đề xuất một số biện pháp hoàn thiện công tác tạo động lực băng cách kích thích, khích lệ cán bộ công nhân viên như khen thưởng, sắp xếp bồ trí nhân sự, đào tạo bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ, xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây, điểm mới của luận “Tạo động lực cho người lao động tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương” là đi vào phân tích, đánh giá thực trạng về động lực cho người lao động tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương trong thời kỳ nền kinh tế khó khăn hiện nay từ đó đề xuất các giải pháp dé triển khai, vận dụng thực hiện chính sách tạo động lực cho người lao động tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương một cách đúng đắn và phù hợp.
Cơ sở lý luận về tạo động lực cho người lao động 1. Một số khái niệm cơ bản 1.Nhu cau và động cơ của con người Theo wikipedia định nghĩa: “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý bình thường của con người, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần đề tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điêm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu câu khác nhau.” Nhu câu có nhiêu cách phân loại. Nhu câu phân loại theo tính chât thì có hai loại nhu câu: nhu câu tự nhiên và nhu câu xã hội.
Nhu câu tự nhiên là vôn có là mặt bản thê của con người như ăn uông, an toàn. Nhu câu xã hội là những nhu cầu do học ta mới có như giáo dục, tôn giáo, nghệ thuật. Động cơ thúc đây: Những nỗ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của con người có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định được gọi là động cơ thúc đây. Động cơ thúc đây giúp cho người lao động tăng năng suất lao động nên người lãnh đạo phải biết.
Nhà quan tri biét duoc cai gi thôi thúc con người hanh động va tai sao ho kiên trì theo đuổi hành động đó thông qua sự hiểu biết về động cơ thúc đây. Động lực làm việc VỀ tạo động lực trong lao động thì có rất nhiều khái niệm khác nhau nhưng mà chúng đều nói lên được bản chất của động lực lao động. Theo giáo trình quản trị nhân lực của Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2007, trang 134) thì: “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động đề tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tô chức”.Theo giáo trình hành vi tổ chức của Bùi Anh Tuấn (2003, trang 89) thì: “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tô chức, cũng như của bản thân người lao động”.