Luận án tiến sĩ tạo động lực làm việc cho người lao động tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương việt nam

Chuyên đề nghiên cứu Tạo động lực làm việc cho nhân viên ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

231
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘNG LỰC, ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG VÀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP, TỔ CHỨC, NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.3. TỔNG HỢP KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

1.3.1. Giá trị khoa học, thực tiễn Luận án được kế thừa

1.3.2. Khoảng trống nghiên cứu

1.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC

2.1.1. Khái niệm về động lực và động lực làm việc

2.1.2. Khái niệm về tạo động lực làm việc

2.2. TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.2.1. Khái quát về ngân hàng thương mại. Động lực làm việc của người lao động trong ngân hàng thương mại

2.2.2. Tạo động lực làm việc cho người lao động trong ngân hàng thương mại

2.2.3. Các tiêu chí đánh giá kết quả tạo động lực làm việc cho người lao động

2.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.3.1. Nhân tố thuộc về bản thân người lao động

2.3.2. Nhân tố thuộc về ngân hàng thương mại

2.3.3. Nhân tố bên ngoài

2.4. KINH NGHIỆM TRONG NƯỚC VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

2.4.1. Kinh nghiệm trong nước về tạo động lực làm việc cho người lao động

2.4.2. Một số bài học đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam về tạo động lực làm việc cho người lao động

2.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2017-2021

3.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

3.1.1. Khái quát về Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

3.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

3.3. THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

3.3.1. Phát triển bền vững và năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

3.3.2. Xác định nhu cầu của người lao động

3.3.3. Nhân tố môi trường kinh doanh và nguồn cung nhân lực

3.3.4. Các biện pháp tạo động lực đối với người lao động

3.4. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

3.4.1. Những kết quả đạt được

3.4.2. Những tồn tại, hạn chế

3.4.3. Những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế

3.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

4.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

4.1.1. Mục tiêu hoạt động trong thời gian tới của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

4.2. QUAN ĐIỂM TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

4.2.1. Tạo động lực làm việc cho người lao động phù hợp với cơ chế, chính sách của Nhà nước và Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

4.2.2. Tạo động lực làm việc bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

4.3. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG CẠNH TRANH VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

4.3.1. Những thách thức

4.4. GIẢI PHÁP TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

4.4.1. Nhóm giải pháp cơ chế, chính sách liên quan đến tạo động lực làm việc cho người lao động

4.4.2. Giải pháp tăng cường động lực làm việc cho người lao động

4.4.3. Nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững

4.4.4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

4.4.5. Hoàn thiện tổ chức bộ máy, môi trường và điều kiện làm việc trong điều kiện cách mạng công nghệ 4.0

4.4.6. Một số khuyến nghị

4.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về động lực làm việc

Động lực làm việc là yếu tố quan trọng quyết định hiệu suất và sự hài lòng của nhân viên ngân hàng. Trong bối cảnh ngân hàng thương mại ngày càng cạnh tranh, việc tạo động lực cho người lao động trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Động lực không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả công việc mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của tổ chức. Theo nghiên cứu, động lực làm việc có thể được phân loại thành nội tại và ngoại tại. Động lực nội tại liên quan đến sự thỏa mãn cá nhân trong công việc, trong khi động lực ngoại tại thường liên quan đến các yếu tố bên ngoài như tiền lương, phúc lợi và môi trường làm việc. Việc hiểu rõ các yếu tố này giúp quản lý nhân sự xây dựng chiến lược phù hợp nhằm nâng cao hiệu suất và sự hài lòng của nhân viên ngân hàng.

1.1 Khái niệm về động lực làm việc

Khái niệm động lực làm việc được định nghĩa là những yếu tố thúc đẩy nhân viên thực hiện công việc một cách hiệu quả. Theo nhiều nghiên cứu, động lực làm việc không chỉ đơn thuần là tiền lương mà còn bao gồm sự công nhận, cơ hội phát triển và môi trường làm việc tích cực. Tạo động lực cho người lao động là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự quan tâm từ phía quản lý nhân sự. Các yếu tố như sự hài lòng của nhân viên, phát triển nghề nghiệpmôi trường làm việc đều có ảnh hưởng lớn đến động lực làm việc. Việc xây dựng một môi trường làm việc tích cực sẽ giúp ngân hàng thương mại thu hút và giữ chân nhân tài.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên ngân hàng. Đầu tiên, chính sách phúc lợi là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Các ngân hàng cần xây dựng chính sách đãi ngộ hợp lý để đảm bảo nhân viên cảm thấy được trân trọng và có động lực làm việc. Thứ hai, môi trường làm việc cũng đóng vai trò quan trọng. Một môi trường làm việc thân thiện, hỗ trợ và khuyến khích sự sáng tạo sẽ giúp người lao động cảm thấy thoải mái và hăng say hơn trong công việc. Cuối cùng, đào tạo nhân viên là yếu tố không thể thiếu. Việc cung cấp các khóa đào tạo và phát triển kỹ năng sẽ giúp nhân viên ngân hàng nâng cao năng lực và tự tin hơn trong công việc.

2.1 Chính sách phúc lợi

Chính sách phúc lợi là một trong những yếu tố quyết định đến động lực làm việc của nhân viên ngân hàng. Các ngân hàng cần xây dựng một hệ thống phúc lợi hợp lý, bao gồm bảo hiểm, nghỉ phép và các chế độ đãi ngộ khác. Theo nghiên cứu, nhân viên có xu hướng làm việc hiệu quả hơn khi họ cảm thấy được chăm sóc và bảo vệ. Việc cung cấp các phúc lợi tốt không chỉ giúp ngân hàng thương mại thu hút nhân tài mà còn giữ chân những nhân viên có kinh nghiệm. Hơn nữa, một chính sách phúc lợi tốt sẽ tạo ra sự gắn bó giữa người lao động và tổ chức, từ đó nâng cao hiệu suất làm việc.

III. Giải pháp tạo động lực làm việc cho nhân viên

Để nâng cao động lực làm việc cho nhân viên ngân hàng, các ngân hàng thương mại cần áp dụng một số giải pháp hiệu quả. Đầu tiên, cần xây dựng một chương trình đào tạo bài bản nhằm nâng cao kỹ năng và kiến thức cho người lao động. Thứ hai, việc tạo ra một môi trường làm việc tích cực, khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới là rất cần thiết. Cuối cùng, các ngân hàng cần thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu, kết nối giữa các bộ phận để tăng cường sự gắn kết và tinh thần đồng đội. Những giải pháp này không chỉ giúp người lao động cảm thấy hạnh phúc hơn mà còn nâng cao hiệu suất làm việc của họ.

3.1 Chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo là một trong những giải pháp quan trọng để tạo động lực làm việc cho nhân viên ngân hàng. Việc cung cấp các khóa học nâng cao kỹ năng chuyên môn và kỹ năng mềm sẽ giúp người lao động tự tin hơn trong công việc. Ngoài ra, các ngân hàng cũng nên khuyến khích nhân viên tham gia các khóa học bên ngoài để mở rộng kiến thức và kinh nghiệm. Một chương trình đào tạo hiệu quả không chỉ giúp ngân hàng thương mại nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn tạo ra một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, sẵn sàng đối mặt với những thách thức trong môi trường cạnh tranh.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘNG LỰC, ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Các nghiên cứu về động lực, động lực làm việc và tạo động lực làm việc được tổng quan theo thời gian xuất hiện các học thuyết lớn cũng như sự vận dụng sáng tạo các học thuyết đó vào các nghiên cứu của những tác giả khác nhau. Các nghiên cứu đầu tiên về động lực lao động đã được thực hiện từ những năm 50 của thế kỷ trước đã không ngừng được bổ sung và phát triển bởi các học giả trên toàn thế giới. Một số công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu trong nước và nước ngoài, như: (1) Nhà tâm lý học người Hoa Kỳ - Abraham Maslow, trong tác phẩm Học thuyết về động lực của con người (Abraham Maslow, 1943) cho rằng con người có những cấp độ khác nhau về nhu cầu. Khi những nhu cầu ở cấp độ thấp được thỏa mãn, một nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ trở thành động lực thúc đẩy.

Sau khi một nhu cầu được đáp ứng, một nhu cầu khác sẽ xuất hiện. Kết quả là con người luôn có những nhu cầu chưa được đáp ứng và những nhu cầu này thúc đẩy con người thực hiện những công việc nào đó để thỏa mãn chúng. Năm cấp bậc nhu cầu do Maslow đề xướng, đó là: (i) Các nhu cầu tồn tại hay nhu cầu sinh lý: Là những nhu cầu cần thiết và tối thiểu nhất đảm bảo cho con người tồn tại như ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác,.… (ii) Nhu cầu về an toàn hay nhu cầu được bảo vệ: Là những nhu cầu được đảm bảo về an toàn, không bị đe dọa về tài sản, công việc, sức khỏe, tính mạng và gia đình,.… (iii) Nhu cầu tình cảm hay nhu cầu về xã hội: Là những nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, bạn bè, mong muốn được tham gia vào một tổ chức hay một đoàn thể nào đó, hay nói cách khác là nhu cầu bạn bè, giao tiếp. luan an 10 (iv) Nhu cầu được kính trọng hay được công nhận: Là nhu cầu có địa vị, được người khác công nhận và tôn trọng cũng như nhu cầu tự tôn trọng mình; (v) Những nhu cầu được thể hiện, tự hoàn thiện: Là những nhu cầu về chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước, mong muốn phát triển toàn diện cả về thể lực và trí tuệ,….

Maslow cho rằng khi con người được thỏa mãn nhu cầu bậc dưới đến một mức độ nhất định thì tự nó nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn. Hay nói cách khác khi mỗi một nhu cầu trong số các nhu cầu đó được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng. Sự thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân sẽ đi theo thứ bậc như trên và mặc dù không có một nhu cầu nào có thể được thỏa mãn hoàn toàn, nhưng một nhu cầu được thỏa mãn về cơ bản thì không còn tạo ra động lực. Mặc dù học thuyết “nhu cầu” của Maslow được nhiều nhà nghiên cứu đón nhận, nhưng việc áp dụng vào thực tế gặp khó khăn do con người có thể có nhiều nhu cầu cùng một lúc, trong một số trường hợp, hoặc đối với một số người, có thể hy sinh nhu cầu ở cấp độ thấp để đạt được nhu cầu ở cấp độ cao.

Hiện nay, về mặt lý thuyết, học thuyết này vẫn có nhiều giá trị trong việc giải thích một số yếu tố tạo động lực cho người lao động [61]. (2) David McClelland, 1961 trong cuốn sách “thành tựu xã hội” đã chỉ ra mỗi người có ba nhu cầu căn bản, đó là: (i) Nhu cầu thành tựu: Là sự khát khao của cá nhân để đạt được hay vượt qua những mục tiêu của cá nhân đã được xác định, hay vươn tới các thành tựu và giành được thắng lợi mới trong công việc và cuộc sống. Khi chúng ta nói tới loại nhu cầu thành tựu có ảnh hưởng lớn nhất với những ai khao khát trở nên xuất sắc và nổi trội hơn người khác và những người này không theo đuổi quyền lực hay sự tán dương, mà chú trọng vào thành công và họ thích những công việc có cơ hội thành công vừa phải khoảng 50/50 và có xu hướng tránh các tình huống có rủi ro thấp hoặc rủi ro cao. Họ tránh các tình huống rủi ro thấp vì chúng có thể được hoàn thành dễ dàng và tin rằng đó không phải là thước đo cho thành công thực sự và họ tránh những tình huống rủi ro cao vì sợ rằng thành tích đạt được phần nhiều dựa vào may mắn hơn là nỗ lực thực sự.

Những người có nhu luan an 11 cầu thành tựu cao hợp tác tốt với nhau và quản lý nên giao cho họ những công việc có tính thử thách, với các mục tiêu có thể đạt được và thường xuyên phản hồi tiến độ công việc cho họ. (ii) Nhu cầu liên kết: Là mong muốn thiết lập quan hệ xã hội một cách thân thiện và hài hòa với người khác. Được người khác thích là mục tiêu chính của những người có nhu cầu cao về sự liên kết. Họ quan tâm nhiều hơn đến việc được tán thành hơn là được công nhận hoặc quyền lực và do đó sẽ hành động theo cách mà họ tin rằng sẽ thu được sự tán thành của người khác.

Họ cũng có xu hướng tránh xung đột, thích các mối quan hệ thân thiện, và chấp nhận hi sinh cá nhân vì người khác. Những người theo đuổi sự liên kết thích làm việc theo nhóm và vui vẻ tuân thủ các qui tắc của nhóm. Họ phát triển tốt trong những tình huống có thể tương tác với người khác và có cơ hội xây dựng các mối quan hệ cá nhân gần gũi. Do đó, nhà quản lí nên cung cấp cho họ cơ hội làm việc trong môi trường hợp tác tốt.

(iii) Nhu cầu quyền lực: Là mong muốn có thể tác động và kiểm soát người khác, trội hơn đồng nghiệp, tác động đến hoàn cảnh và làm thay đổi hoàn cảnh. Những người có nhu cầu cao về quyền lực theo đuổi quyền lực và sự phục tùng, không quan tâm tới sự tán thành và công nhận của người khác và họ nên được trao cơ hội quản lí người khác. Những người theo đuổi quyền lực cá nhân có mong muốn mạnh mẽ nhằm kiểm soát người khác; khiến mọi người hành xử phù hợp với mong muốn của mình. Mặt khác, những người theo đuổi quyền lực xã hội hoặc quyền lực tổ chức sử dụng quyền lực để huy động các nỗ lực thực hiện các mục tiêu của tổ chức.

Người quản lý có nhu cầu cao về quyền lực xã hội tạo ra hiệu quả công việc cao hơn nhiều so với người có nhu cầu cao về quyền lực cá nhân. Theo David McClelland các nhu cầu này tiềm ẩn trong mỗi cá nhân và được nâng cao hơn khi kinh nghiệm làm việc tăng lên. David McClelland đã chỉ ra rằng, mức độ phát triển kinh tế của một quốc gia có ảnh hưởng tích cực tới động lực để đạt được thành tựu nói chung. Học thuyết của David McCelland đã bổ xung mối quan hệ giữa sự phát triển của xã hội và các nhu cầu cơ bản của cá luan an 12 nhân, nên đi xa hơn học thuyết của Heizberg và Maslow.

Một số ứng dụng của học thuyết này tỏ ra hiệu quả, nhất là trong việc nghiên cứu nhu cầu, động lực của người lao động ứng với những bối cảnh xã hội khác nhau [73]. Tuy nhiên, Học thuyết của David McCelland được cho là còn đơn giản, và để ứng dụng trong các bối cảnh khác nhau còn cần tiến hành những nghiên cứu bổ sung. Học thuyết cũng bị chỉ trích bởi phương pháp nghiên cứu, cách thức chọn mẫu chưa tin cậy. Mặc dù bị chỉ trích, nhưng vẫn luôn có các bằng chứng ủng hộ cho sự liên quan của Học thuyết tới hành động thực tế của con người và vì thế học thuyết hai nhân tố vẫn được vận dụng trong một số công trình nghiên cứu như công trình nghiên cứu của Lê Thu Hạnh (2010), Lưu Thị Bích Ngọc và các cộng sự (2013), Trần Văn Huynh (2016), David Cornad (2015); Hyun.

(3) Federic Heirzberg trong tác phẩm “Động lực trong lao động” đã phát triển mô hình thuyết hai nhân tố vào năm 1959. Ông đã phỏng vấn 200 kỹ sư và kế toán làm việc tại 11 công ty khác nhau ở Pittsburgh. Những người này được yêu cầu nhớ lại những vấn đề, sự cố xảy ra trong công việc hàng ngày của họ, đó có thể là những vấn đề khiến họ hạnh phúc nhất hoặc cảm thấy tồi tệ nhất. Sau khi nghiên cứu, Herzberg đã phát hiện ra có 2 nhân tố mà một tổ chức có thể điều chỉnh để duy trì, phát triển động lực của nhân viên, đó là: (i) Nhân tố tạo động lực là những yếu tố khuyến khích nhân viên làm việc chăm chỉ hơn, gồm: Sự hấp dẫn, mức độ thú vị của công việc; thành tựu, cơ hội thăng tiến, sự ghi nhận nỗ lực; trách nhiệm trong thực hiện công việc.

Những nhân tố này, nếu được giải quyết tốt, sẽ tạo ra sự thỏa mãn và từ đó sẽ động viên người lao động làm việc chăm chỉ hơn, nhưng nếu giải quyết không tốt thì tạo ra tình trạng không thỏa mãn chứ chưa chắc đã bất mãn. (ii) Nhân tố duy trì: Những yếu tố này không khuyến khích nhân viên làm việc chăm chỉ hơn, nhưng sẽ khiến họ mất đi động lực nếu không được đáp ứng đầy đủ, gồm: Lương và các khoản phúc lợi; sự giám sát, điều kiện làm việc, chính sách quản trị công ty; các mối quan hệ trong công việc. Các nhân tố này, luan an 13 nếu giải quyết không tốt, sẽ tạo ra sự bất mãn, còn nếu giải quyết tốt, thì tạo ra tình trạng không bất mãn chứ chưa chắc đã có tình trạng thỏa mãn. Heizberg đề xuất hoạt động thiết kế lại công việc để tăng tính thách thức và hấp dẫn của công việc nhằm nâng cao tránh nhiệm, tạo cơ hội cho việc đạt được thành tựu, sự phát triển bản thân cũng như sự ghi nhận.

Theo một số nhà quản lý, học thuyết hai nhân tố của Heizberg tiềm ẩn một số điều chưa hợp lý. Trong thực tế, một số nhân viên không thích công việc nhiều thử thách và sự vui thích trong công việc cũng không phải là một yếu tố tạo động lực cho họ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về động lực làm việc cho nhân viên tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam" của tác giả Hoàng Dũng, dưới sự hướng dẫn của GS. Nguyễn Huy Thịnh, được thực hiện tại Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội vào năm 2023. Bài luận án này tập trung vào việc phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm tạo động lực làm việc cho nhân viên trong bối cảnh ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam. Những điểm chính của nghiên cứu bao gồm việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc, từ đó đưa ra các khuyến nghị cụ thể để nâng cao hiệu suất làm việc và sự hài lòng của nhân viên.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực ngân hàng và quản trị, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Vietcombank", nơi nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam, hay "Nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Á Châu", tập trung vào việc cải thiện chất lượng dịch vụ ngân hàng. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Giải pháp phát triển tín dụng bán lẻ tại ngân hàng BIDV chi nhánh Bỉm Sơn", một nghiên cứu về phát triển tín dụng trong lĩnh vực ngân hàng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề liên quan đến động lực làm việc và quản trị trong ngành ngân hàng.