Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển tín dụng bán lẻ của các Ngân hàng thương mại. Thực trạng phát triển tín dụng bán lẻ của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bỉm Sơn. Một số giải pháp phát triển tín dụng bán lẻ của Chi nhánh TMCP Đầu tư và Phát triển Bỉm Sơn.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, phân loại và vai trò của tín dụng ngân hàng và tín dụng bán lẻ 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng và phân loại tín dụng ngân hàng - Khái niệm về tín dụng ngân hàng “Cấp tín dụng của ngân hàng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” [15; tr 19 - 20] - Phân loại tín dụng ngân hàng Kinh tế thị trường càng phát triển, xã hội càng hiện đại, thì nhu cầu của con người ngày càng trở nên phong phú và đa dạng, khiến cho các dịch vụ phục vụ con người cũng trở nên phong phú và đa dạng theo. Để đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của khách hàng, ngân hàng luôn phải nghiên cứu và đưa ra các sản phẩm phù hợp, điều này khiến cho tín dụng ngân hàng trở nên phong phú và đa dạng như ngày nay.
Để có cái nhìn tổng ” quan về các loại hình tín dụng, căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, tín dụng được phân loại gồm: a/ Căn cứ vào mục đích vay vốn: Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, tín dụng gồm các loại sau: + Tín dụng bất động sản: là các khoản tín dụng đầu tư vào bất động sản bao gồm: Tín dụng ngắn hạn cho xây dựng nhỏ và sửa chữa nhà cửa; tín dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, cơ sở dịch vụ, trang trại. + Tín dụng công thương nghiệp: là các khoản tín dụng cấp cho các khách hàng để trang trải các chi phí như mua hàng hóa, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, trả thuế và chi trả lương. 5 + Tín dụng nông nghiệp: là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông nghiệp nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi. + Tín dụng tiêu dùng: là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân, hộ gia đình để mua sắm hàng hóa tiêu dùng có giá trị lớn như xe ô tô, trang thiết bị nội thất gia đình, cho vay du học… + Tín dụng đầu tư tài chính: là các khoản tín dụng cấp cho các cá nhân, doanh nghiệp mua chứng khoán, vàng.
b/ Căn cứ vào thời hạn tín dụng: + Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn đến 1 năm được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp như: bổ sung ngân quỹ, ứng trước tiền hàng, đảm bảo yêu cầu thanh toán đến hạn, duy trì hàng tồn kho… hoặc phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình. Đây là loại tín dụng có mức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, tránh được các rủi ro về lãi suất, lạm phát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế vĩ mô và thị trường, vì thế lãi suất thường thấp hơn các loại tín dụng khác. + Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm, được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất và xây dựng công trình vừa và nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. Tín dụng trung hạn còn là nguồn quan trọng hình thành nên vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với doanh nghiệp mới thành lập.
+ Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, đáp ứng cho nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng cơ bản (nhà xưởng, dây chuyền sản xuất…); xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, cảng biển, sân bay…); cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Do thời hạn đầu tư thường kéo dài, nên tín dụng dài hạn thường áp dụng hình thức giải ngân nhiều lần theo tiến độ dự án. Nhìn chung tín dụng dài hạn chịu rủi ro rất lớn, bởi vì thời hạn càng dài, thì những biến động không dự tính có thể xảy ra càng lớn. 6 c/ Căn cứ vào bảo đảm tín dụng: + Tín dụng có bảo đảm: Là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba.
Hình thức tín dụng này áp dụng đối với những khách hàng không đủ uy tín, khi vay vốn phải có tài sản bảo đảm hoặc phải có người bảo lãnh. Tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh của người thứ ba là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu dự phòng khi nguồn thu chính (dòng tiền) của người vay nợ thiếu hụt, do lo sợ phát mại tài sản đã tạo áp lực buộc người vay nợ phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. + Tín dụng không có bảo đảm: Là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hay không có bảo lãnh của người thứ ba. Loại tín dụng này áp dụng cho những khách hàng truyền thống, có hệ số tín nhiệm cao và số tiền vay không lớn.
d/ Căn cứ vào chủ thể vay vốn: + Tín dụng doanh nghiệp (tín dụng bán buôn): Gọi là bán buôn vì những doanh nghiệp thường vay những khoản vay có giá trị lớn. + Tín dụng cá nhân, hộ gia đình (tín dụng bán lẻ): Gọi là bán lẻ vì những cá nhân thường vay với những khoản vay có giá trị nhỏ nhằm vào mục đích tiêu dùng hoặc kinh doanh hộ gia đình. + Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm và các tổ chức tài chính khác. Những khoản đi vay này trở thành nguồn vốn của ngân hàng đi vay, nên có thể dùng để trả nợ hoặc cho vay lại.
e/ Căn cứ phương thức hoàn trả nợ vay: + Tín dụng hoàn trả nhiều lần: Loại tín dụng này áp dụng cho những khoản vay lớn và có thời hạn dài. Tín dụng trả góp là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi vay định kỳ thành những khoản bằng nhau, thường dùng trong mua nhà trả góp. + Tín dụng hoàn trả một lần: Là loại tín dụng mà khách hàng chỉ hoàn trả vốn gốc và lãi vay một lần khi đến hạn. Loại tín dụng này áp dụng cho những khoản vay nhỏ và có thời hạn ngắn.
7 + Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: Là loại tín dụng mà khách hàng có thể hoàn trả nợ vay bất cứ khi nào. Loại tín dụng này thường áp dụng cho những khoản vay thấu chi, thẻ tín dụng. f/ Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng: + Tín dụng bằng tiền: Là tín dụng mà hình thái giá trị bằng tiền. Tín dụng bằng tiền hay được gọi là cho vay.
Chiết khấu cũng là hình thức tín dụng bằng tiền nhưng dưới hình thức mua bán giấy tờ có giá. + Tín dụng bằng tài sản: Là tín dụng mà hình thái giá trị bằng tài sản. Hình thức tín dụng này hay được gọi là cho thuê tài chính. + Tín dụng bằng uy tín: Là tín dụng mà hình thái giá trị bằng uy tín.
Hình thức tín dụng này hay được gọi là bảo lãnh ngân hàng. g/ Căn cứ vào xuất xứ tín dụng: + Tín dụng ngân hàng trực tiếp: Là hình thức tín dụng, trong đó ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho khách hàng có nhu cầu vay vốn, đồng thời khách hàng hoàn trả nợ vay trực tiếp cho ngân hàng. + Tín dụng ngân hàng gián tiếp: Là hình thức tín dụng thông qua trung gian như: tín dụng ủy thác, tín dụng thông qua tổ chức đoàn thể. h/ Tín dụng khác: + Chiết khấu giấy tờ có giá.
+ Mua các khoản nợ của các doanh nghiệp: Là dịch vụ mua các yêu cầu (giấy đòi nợ) của các công ty sau đó nhận tiền thanh toán về các yêu cầu này. Các yêu cầu ở đây thường là các giấy đòi nợ ngắn hạn phát sinh do cung cấp hàng hóa. + Tín dụng chứng từ: Đối tượng cấp tín dụng là bộ chứng từ bán hàng (thường là bộ chứng từ hàng xuất), không phải hàng hóa vật chất hữu hình. Tín dụng chứng từ rất phong phú và đa dạng như: mở thư tín dụng; ứng trước bộ chứng từ hàng xuất; chiết khấu hối phiếu… 8 + Cho thuê tài chính: là việc một công ty cho thuê tài chính mua tài sản (nhà xưởng, máy móc, máy bay.) và giữ quyền sở hữu tài sản, sau đó cho khách hàng thuê với mức tiền thuê nhất định.
+ Ngoài ra còn có các loại tín dụng khác như tín dụng nội tệ, ngoại tệ, vàng; tín dụng trong nước, tín dụng quốc tế… 1. Khái niệm về tín dụng bán lẻ và phân loại tín dụng bán lẻ - Khái niệm về tín dụng bán lẻ Tín dụng bán lẻ là một bộ phận quan trọng trong tín dụng ngân hàng và có vai trò quan trọng đối với hoạt động tín dụng và kết quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại. “Tín dụng bán lẻ là hình thức cung cấp tín dụng của ngân hàng cho các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình. Tín dụng bán lẻ có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng, các khách hàng và cả nền kinh tế” [14; tr 1].
Tuy nhiên, tùy theo từng ngân hàng khác nhau mà đối tượng khách hàng bán lẻ có thể khác nhau. Trong khuôn khổ bài luận văn, tác giả nghiên cứu cấp tín dụng bán lẻ bằng nghiệp vụ cho vay của ngân hàng cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình. - Phân loại tín dụng bán lẻ Hiện nay, các ngân hàng thương mại có rất nhiều sản phẩm tín dụng bán lẻ khác nhau tùy vào các mục đích và thời gian sử dụng vốn của khách hàng cụ thể như sau: Cho vay nhu cầu nhà ở là sản phẩm ngân hàng cung cấp vốn cho các khách hàng cá nhân để mua nhà ở, đất ở, xây dựng nhà ở mới, cải tạo nhà ở, sửa chữa nhà ở, chuyển quyền thuê lại nhà của nhà nước, chuyển quyền sử dụng đất.