Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Tạo động lực làm việc cho người lao động 1. Động lực làm việc Động lực làm việc là quá trình tâm lý định hướng cá nhân theo mục đích nhất định, thường là lực thúc đẩy từ bên trong. Trong một doanh nghiệp, động lực làm việc của nhân viên là những nhân tố bên trong kích thích họ tích cực làm việc để tạo ra năng suất cao, hướng tới việc đạt mục tiêu của người sử dụng lao động.
Động lực làm việc được gắn liền với công việc, tổ chức và môi trường làm việc cụ thể. Biểu hiện của động lực làm việc là sự sẵn sàng và say mê với công việc, sự khát khao và tự nguyện cống hiến. Dĩ nhiên, năng suất và hiệu quả công việc còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, như khả năng của nhân viên, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc. Người ta có thể thấy rõ mức độ tác động của động lực làm việc của từng nhân viên đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức như thế nào.
Vì tầm quan trọng của lĩnh vực này, đã có nhiều học giả và nhà kinh tế nghiên cứu về các khía cạnh liên quan động lực làm việc. Động lực lao động là một chủ đề quen thuộc và được rất nhiều các nhà nghiên cứu đề cập với những khái niệm khác nhau Theo Bradley E. Wright, (2004), động lực làm việc là việc tự nguyện, khát khao, cố gắng làm việc mà công việc đó giúp người lao động đạt mục tiêu cá nhân, từ đó góp phần đạt mục tiêu của tổ chức. Động lực làm việc là một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm [15, tr.
Ở góc độ khác nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng (2020), cho rằng động lực lao động là sự nỗ lực một cách tự nguyện của người lao động để tăng cường các hoạt động lao động hướng tới việc đạt được mục tiêu của mình thông qua việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. Động lực lao động thể hiện thông qua mức độ nỗ lực một cách tự nguyện của người lao động nhằm tăng cường hiệu suất làm việc của cá nhân, nhóm và tổ chức. Động lực lao động hay động lực 6 làm việc được hình thành từ tác động của các yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài bản thân người lao động. Nhưng tự nó, động lực lao động lại tồn tại bên trong người lao động.
Người lao động cảm thấy mình cần nỗ lực, muốn nỗ lực, nỗ lực tự nguyện. Động lực lao động xuất hiện kể từ khi người lao động có lý do để làm việc, để lao động. Nó khởi nguồn bởi một động cơ này nhưng có thể được duy trì và nuôi dưỡng bằng nhiều động cơ khác. Động lực lao động bắt đầu hành vi tích cực liên quan đến công việc, nó thúc đẩy quá trình nỗ lực làm việc.
Động lực lao động có phương, hướng và cường độ rõ ràng. Người lao động sẽ làm việc một cách nhẹ nhàng hơn khi có động lực lao động cao [7, tr. Như vậy, có thể hiểu động lực làm việc NLĐ là sự tự nguyện, khát khao, cố gắng làm việc mà công việc đó giúp người lao động đạt mục tiêu cá nhân của NLĐ như thu nhập, thăng tiến, ghi nhận giá trị bản thân…từ đó góp phần tạo nên của mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp. Tạo động lực làm việc Tạo động lực tốt sẽ giúp nhân viên có tinh thần, thái độ và hành vi tích cực trong mọi hoạt động của tổ chức.
Biểu hiện rõ nhất về mức độ thay đổi hành vi và thái độ của nhân viên gồm ý thức chấp hành kỷ luật, mức độ gắn bó với tổ chức và sự hài lòng của họ, dẫn đến chất lượng cũng như hiệu quả của công việc. Vậy tạo động lực làm việc lao động là gì, với góc nhìn của các nhà nghiên cứu cho thấy: Tác giả Carr (2005) mô tả động lực làm việc là một sự thúc đẩy từ bên trong, dựa trên nền tảng các nhu cầu cơ bản một cách có ý thức và vô thức của một cá nhân mà chính điều đó dẫn dắt người lao động làm việc để đạt được mục tiêu [16]. Với tác giả Robbins (2013) định nghĩa động lực làm việc hoặc động viên khuyến khích trong công việc là “Sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ” [17]. Tạo động lực là sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức, doanh nghiệp [8].
7 Tạo động lực là những kích thích nhằm thôi thúc, khuyến khích, động viên con người thực hiện những hành vi theo mục tiêu, thể hiện được khát khao hoàn thiện bản thân và tiến bộ trong công việc, tạo ra cảm giác phấn trấn để thực hiện công việc Là việc dùng những biện pháp nhất định để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả hơn trong công việc. Sự cần thiết phải tạo động lực làm việc cho người lao động Tạo động lực có vai trò quan trọng đối với mỗi tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và cả xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề tạo động lực cho người lao động luôn được các công ty, doanh nghiệp quan tâm hàng đầu. Tạo động lực cho người lao động giúp thúc đẩy người lao động hăng say làm việc, là yếu tố quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp.
Không có động lực sẽ không thể tồn tại. Tạo động lực để người lao động làm việc chăm chỉ hơn, cống hiến hết mình vì công ty, gắn bó với công ty lâu dài. Tạo động lực lao động cho người lao động không những kích thích tâm lý làm việc cho người lao động mà nó còn tăng hiệu quả lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty, xây dựng đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, làm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường… Bảng 1.1: Vai trò của tạo động lực làm việc cho NLĐ Các đối tượng Vai trò Đối với cá nhân Thúc đẩy người lao động làm việc hăng say hơn Thúc đẩy tính sáng tạo và năng lực làm việc Giúp tự hoàn thiện bản thân Đáp ứng tốt hơn nhu cầu của bản thâ Đối doanh Tạo ra sự gắn kết: Giữ được người tài nghiệp, Tổ chức Môi trường làm việc vui vẻ, tích cực, hăng say và sáng tạo Tăng năng suất lao động Tăng lợi nhuận Tăng hiệu quả Đối với xã hội Thúc đẩy tăng năng suất lao động Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Xã hội phát triển Nguồn: [7, tr. Học thuyết điển hình về tạo động lực làm việc cho người lao động Với vai trò cuả tạo động lực làm việc cho NLĐ đã có nhiều học thuyết nghiên cứu, từ đó các nghiên cứu tạo động lực có thể vận dụng từ các học thuyết trong các lĩnh vực cụ thể, đơn vị tổ chức cụ thể cho phù hợp với thực tiễn.
Các học thuyết sẽ chỉ ra các lĩnh vực khác nhau, tiếp cận dưới góc độ khác nhau trong tạo động lực làm việc cho NLĐ, phân tích được ưu nhược điểm, lựa chọn các học thuyết vận dụng trong nghiên cứu thực tiễn là hết sức quan trọng. Học thuyết nhu cầu của Maslow Theo Abraham Maslow, nhu cầu của một con người được phân theo những cấp bậc khác nhau. Gồm nhu cầu cơ bản và các nhu cầu bậc cao. Những nhu cầu cơ bản sẽ được con người ưu tiên, trước khi phát sinh những nhu cầu cao hơn.
Các nhu cầu cơ bản bao gồm việc ăn, ngủ nghỉ, sinh lý không thể nào thiếu của một con người. Tiếp theo mới đến sự an toàn, kết nối, thể hiện bản thân ở những bậc cao hơn.1: Tháp nhu cầu Maslow Nguồn: [5] 9 Mỗi một NLĐ đều tồn tại đồng thời cả 5 nhu cầu trên cùng một lúc. Tùy vào thời điểm mà người quản lý có những chính sách phù hợp với mỗi cá nhân NLĐ. Trong mô hình quản lý cuả công ty hay doanh nghiệp tháp nhu cầu Maslow trong công ty thể hiện bởi các tầng cụ thể: Nhu cầu cơ bản: Nhân viên được trả một mức lương công bằng và xứng đáng với vị trí, năng lực làm việc.
Đảm bảo những chi tiêu cho nhân viên và có thêm những khoản phụ cấp khác. Như Xăng xe, ăn trưa và một chế độ nghỉ ngơi, làm việc phù hợp. Nhu cầu an toàn: Đảm bảo được điều kiện làm việc tốt cho nhân viên. Thực hiện ký kết hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội.
Bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế cho nhân viên, các nhu cầu khác như đồ bảo hộ an toàn, phòng cháy nổ y tế, bảo hiểm… Nhu cầu xã hội: Tháp nhu cầu Maslow trong quản trị đáp ứng nhu cầu xã hội bằng việc xây dựng văn hóa làm việc nhóm. Hình thành các khối phòng ban, công đoàn… Tổ chức cho công ty những chuyến du lịch, team building hay hoạt động ngoại khóa. Đó thể hiện được nhu cầu được học hỏi giao lưu với các đơn vị, cá nhân, đối tác…trong công việc. Nhu cầu được tôn trọng: Nên có những con đường thăng tiến rõ ràng cho nhân viên về cả mức lương hay vị trí làm việc.
Trao quyền hạn đi đôi với trách nhiệm của từng nhân viên. Có các cơ chế thưởng, phạt công bằng để khuyến khích nhân viên. Nhu cầu thể hiện bản thân: Công ty cung cấp các cơ hội phát triển những thế mạnh của từng cá nhân. Cân nhắc các vị trí lãnh đạo cho nhân viên xuất sắc nhất.
Cho nhân viên có tiếng nói chi phối, đóng góp sự phát triển cho công ty. Các biểu hiện thể hiện trong nhu cầu này như: Sự cố gắng của cá nhân, 10 hoàn thiện giá trị và nâng cấp gái trị bản thân để khẳng định mình như: Nâng cao tay nghề làm việc, hoàn thiện kỹ năng bổ trợ cho công việc… 1. Học thuyết hai yếu tố của Herzberg Thuyết hai nhân tố của Herzberg cho rằng có hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến động lực của nhân viên tại nơi làm việc; là các nhân tố duy trì và các nhân tố động viên. Thuyết này được đề xuất bởi Frederick Herzberg - một nhà tâm lí học quan tâm đến mối tương quan giữa thái độ của nhân viên và động lực làm việc.