Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về nguồn nhân lực và công tác đào tạo nguồn nhân lực tại doanh nghiệp 1.1 Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực được xác định là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương; tức là nguồn lực lao động được chuẩn bị sẵn sàng tham gia một công việc nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng, bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Như vậy, nguồn nhân lực là lực lượng lao động sẵn sàng them gia lao động trong phạm vi quốc gia, vùng hay địa phương [11]. Đối với một doanh nghiệp, nguồn nhân lực được xem là một trong những nguồn lực quan trọng nhất.
Sự phát triển của một doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn bởi trình độ văn hóa cũng như năng lực chuyên môn của mỗi người lao động. Mỗi người lao động cần được nhìn nhận, coi trọng và doanh nghiệp thông qua công tác tuyển dụng, đào tạo, khai thác, thực hiện chính sách điều chỉnh chính là biện pháp khích lệ, cổ vũ người lao động làm việc tích cực, lâu dài. Người lao động nếu được tạo điều kiện phát triển tốt sẽ ngày càng gắn bó, không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn phục vụ doanh nghiệp [12]. Nguồn nhân lực là nguồn lực có ý thức, có quan niệm giá trị.
Con người là chủ thể, đồng thời là người vận dụng các nguồn lực khác. Do vậy, cần chú ý khơi dậy tinh thần lao động tự nguyện của người lao động, gắn lợi ích của người lao động với hoàn thành công việc. Được như vậy, người lao động sẽ cố gắng làm mọi cách khắc phục khó khăn và có trách nhiệm cao với công việc. Phát triển tâm lý xã hội cho nguồn nhân lực cũng là một vấn đề mà doanh nghiệp cần quan tâm thực hiện [8].
5 Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu trong lực lượng sản xuất. Với vai trò quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, nguồn nhân lực quyết định sự phát triển và tiến bộ của toàn xã hội (tầm vĩ mô) và quyết định sự phát triển, thành công hay thất bại của một tổ chức. Hay nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người – một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp [15].
Tóm lại, Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn nhân lực này bao gồm trí lực và thể lực [7]. Phân loại nguồn nhân lực Tùy theo từng quan điểm và khía cạnh nghiên cứu khác nhau mà nguồn nhân lực cũng được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành nguồn nhân lực được chia thành 3 loại: - Nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động và đang có khả năng lao động. Việc quy định giới hạn độ tuổi phục thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng nước khác nhau.
Trong từng thời kỳ lại có sự thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp. Ở nước ta hiện nay tuổi nghỉ hưu đối với nam là từ đủ 60 tuổi và với nữ là từ đủ 55 tuổi. Theo quy định mới tại Bộ Luật Lao động năm 2019 thì độ tuổi nghỉ hưu đối với những người làm việc trong điều kiện lao động bình thường sẽ được điều chỉnh theo lộ trình. Bắt đầu từ 01 tháng 01 năm 2021, tuổi nghỉ hưu đối với lao động nam làm việc trong điều kiện bình thường sẽ là 60 tuổi 03 tháng và sau đó cứ mỗi năm tăng lên 03 tháng cho đến khi đủ 62 tuổi vào năm 2028.
Đối với nữ lao động làm việc trong điều kiện bình thường sẽ là 55 tuổi 04 tháng, sau đó mỗi năm tăng thêm 04 tháng cho đến khi đủ 60 tuổi vào năm 2035. - Nguồn lực tham gia hoạt động kinh tế hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế. Đây là những người có công ăn việc làm và đang hoạt động trong nền kinh tế quốc dân. 6 - Nguồn nhân lực dự trữ: Nguồn nhân lực này bao gồm những người trong độ tuổi lao động, nhưng vì lý do khác nhau nên chưa tham gia hoạt động kinh tế, song khi cần có thể huy động được cụ thể gồm: + Những người làm công việc nội trợ gia đình, đây là nguồn nhân lực đáng kể và đại bộ phận là lao động nữ.
+ Những người tốt nghiệp các trường phổ thông trung học và chuyên nghiệp song chưa có việc làm là nguồn nhân lực dự trữ rất quan trọng và có chất lượng nếu tiếp tục được đào tạo. + Những người vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về. Họ đã được rèn luyện về sức khỏe, ý chí, đạo đức cách mạng. Vì vậy, đây là nguồn nhân lực tốt khi được sắp xếp công việc phù hợp [10].
Công tác đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo nguồn nhân lực là các hoạt động học tập, trang bị cho người lao động những kiến thức, kỷ năng, kỷ xảo liên quan đến nghề nghiệp giúp cho người lao động khắc phục những kiến thức còn thiếu hụt hoặc trang bị cho họ thêm kiến thức mới để có thể thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình. Công tác đào tạo nguồn nhân lực là vấn đề sống còn của các tổ chức, của xã hội và thực tiễn đã chứng minh điều này. Một tổ chức muốn tồn tại và phát triển cần phải có đội ngũ lao động giỏi. đội ngũ lao động giỏi làm cho tổ chức ngày càng phát triển, tiến bộ và một tổ chức phát triển, tiến bộ luôn xác định nguồn nhân lực là tài sản quý giá nhất của tổ chức, là công cụ quyết định trong cuộc cạnh tranh giành thắng lợi, do vậy các tổ chức luôn làm mọi cách để có được một đội ngũ lao động giỏi.
Thêm vào đó là cùng với quá trình hội nhập ngày càng cao hơn của nền kinh tế khu vực và thế giới đang đặt các doanh nghiệp vào hoàn cảnh phải cạnh tranh sâu sắc và gay gắt. điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động nhanh chóng nâng cao khả năng sản xuất và năng lực cạnh tranh của mình thì mới có thể chiến thắng được trong canh tranh. điều này chỉ có thể thực hiện được khi nội lực của các doanh nghiệp với sự giúp đỡ của và hỗ trợ của nhà nước. Trong đó biện pháp chủ yếu là phải chủ động nâng 7 cao chất lượng nguồn nhân lực của mình thông qua nâng cao chất lượng công tác đào tạo nguồn nhân lực.
Mục tiêu của công tác đào tạo là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có, nâng cao tính chuyên nghiệp, tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình và thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tương lai [16]. Vai trò của công tác đào tạo nguồn nhân lực 1. Đối với người lao động Trong điều kiện sự phát triển của khoa học kỹ thuật, người lao động luôn phải nâng cao trình độ văn hoá và nghề nghiệp chuyên môn để không bị tụt hậu. Đào tạo nguồn nhân lực sẽ giúp cho họ nâng cao kiến thức và tay nghề giúp họ tự tin, làm việc có hiệu quả hơn, đóng góp cho tổ chức nhiều hơn góp phần làm tăng thu nhập đảm bảo cho cuộc sống của họ tốt hơn.
Phát huy khả năng, khám phá từng người, người lao động trở nên nhanh nhẹn đáp ứng sự thay đổi của môi trường sản xuất kinh doanh [8]. Đối với doanh nghiệp Đào tạo nguồn nhân lực sẽ đảm bảo cho nhân lực của doanh nghiệp có thể thích ứng và theo sát sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, đảm bảo cho doanh nghiệp có một lực lượng lao động giỏi, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu của doanh nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi thế giới đang dần chuyển sang một phương thức sản xuất mới, hùng hậu hơn, nền kinh tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải thích ứng tốt hơn, nhanh hơn với một môi trường kinh doanh và phải đáp ứng được nhu cầu của cạnh tranh. đào tạo nguồn nhân lực sẽ càng nâng cao tay nghề, nâng cao kỹ năng, làm cho người lao động toàn diện hơn. Nó còn cải thiện được mối quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới xoá được sự thiếu hiểu biết, sự tranh chấp, sự ngăn chặn căng thẳng mâu thuẫn tạo ra bầu không khí đoàn kết thân ái cùng phát triển [14].
Đối với xã hội Công tác đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa rất to lớn đối với xã hội, nhờ có hoạt động này mà người lao động không những nâng cao được tay nghề mà còn tăng sự hiểu biết về pháp luật. Góp phần thúc đẩy sự phát triển về kinh tế nói chung và giải quyết những vấn đề lao động và thu nhập cho người lao động nói riêng. Đối với xã hội thì yếu tố lợi ích xã hội, lợi ích nhân văn là vô cùng to lớn. Đời sống con người lao động được cải thiện, điểu kiện sinh hoạt vui chơi giải trí được nâng cao…Qua đó giảm bớt được các tệ nạn, các tiêu cực trong xã hội và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
Chính vì vậy mà ngày nay các nhà quản lý không chỉ dừng lại các chương trình đào tạo có tính chất đối phó mà họ còn biết nhìn xa trông rộng trong nhiều năm tới. Chuẩn bị cho những thay đổi trong tương lai, thực tế đã chứng minh những doanh nghiệp nào thích ứng một cách năng động với những thay đổi thì sẽ thành công, đầu tư hợp lý cho công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nó sẽ đem lại hiệu quả to lớn trong sản xuất kinh doanh [14]. Nội dung công tác đào tạo nguồn nhân lực 1. Xác định nhu cầu đào tạo Xác định nhu cầu là bước đầu tiên trong hoạt động đào tạo NNL.
Xác định nhu cầu nhằm trả lời cho câu hỏi ai cần được đào tạo? Khi nào, ở bộ phận nào cần phải đào tạo, đào tạo kỹ năng nào, cho loại lao động nào và bao nhiêu người?