Chương 1: Một số van dé lý luận về hợp đồng hợp tác kinh doanh. và lý luân pháp luật về hợp đồng hợp tác kinh doanh. - Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam va Nha đầu tư ước ngoài -_ Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hợp đồng hop tác kinh doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam và nha đầu tư nước ngoài. n CHUONG1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE HOP BONG HOP TAC KINH DOANH VÀ LÝ LUẬN PHÁP LUAT VE HỢP BONG.
HOP TAC KINH DOANH 111. Một số vấn đề ly luận về hợp đồng hop tác kinh doanh. Khái niệm hop đông hop tic kinh doanh Để tiên hành hoạt đông hợp tác kinh doanh giữa các tổ chức, cá nhân trong nước hoặc với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, có nhiều hình thức để các bên có thé xem xét thực hiện như tiền hanh thảnh lập tổ chức kinh tế hay góp von vào tổ chức kinh tế v.v, tuy nhiên để triển khai quan hệ hợp tác một cách nhanh gọn va để dàng, nhiều doanh nghiệp đặc biệt lựa chọn hình thức. hợp tác qua hợp đồng hợp tác kinh doanh (goi tắt là BCC).
Khái niêm hợp đồng hợp tác kinh doanh lần đầu tiên xuất hiện trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1087!, có pham wi điều chỉnh là quan hệ hợp tác kinh doanh giữa nhà đầu tư Việt Nam và nhà đâu tư nước ngoài. Khi đó, hop ding hop tác kinh doanh chỉ có thể ký kết va thực hiện giữa hai bên chủ thể, bao gồm một bên nước ngoài va một bên Việt Nam. khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dau tư nước ngoai tại Việt Nam năm 1900 ra đời, hợp đẳng hợp tác kinh đoanh là hợp đỏng hai bên hoặc nhiều bên. Khái niệm về hợp đồng hợp tác kinh doanh được thực sự hoàn thiện kể từ khi ban hảnh Luật Dau tư năm 2005, va sau nay là Luật Đầu tư.
Theo đó, khái niệm mới nhất về hợp đồng hợp tac kinh doanh được quy đính tại Khoản 14, Điểu 3, Luật Bau tư 2020 là “hop đồng được ky giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh, phân chia lợi "Nguyễn Th Dụng C022), “Sách Pháp luật vd Hop đồng trong Hương mai và đâu ác Những vẫn “đề phápý cơ ban”,Nhà must bin chính trị quée gia sự thật Chương 12 vé HophopHiop đẳng hợp te lãnh doanh, nimân, phân chia sản phẩm theo quy đmh pháp luật mà không thành lập 16 chức kinh tễ (Qua định nghĩa nêu trên, có thể hiểu ring, hợp đồng hợp tác kinh doanh. là sự thôa thuận giữa các nhà đầu tư để củng góp vốn, cùng thực hiện việc kinh doanh, va lợi nhuận hay sản phẩm được tao ra tử qua trình hợp tác này sé được phân chia cho các bên liên quan nhưng lai không cân phải thành lập một pháp nhân mới như các hình thức hợp tác khác. Đặc điểm hợp đông hop tác kinh doanh Vẻ chủ thé của hợp đồng, chủ thé của hợp dong hợp tác kinh doanh. được dé cập trong luận văn này lả nhà đầu tư trong nước va nhà đầu tư nước.
Thông thường tại Việt Nam, các chủ thé của hợp đồng này thường là các doanh nghiệp Việt Nam với nhau, hoặc giữa doanh nghiệp Việt Nam va cả nhân quốc tịch Việt Nam. Nhưng trong phạm vi bai luận văn nảy, tác giả để cập đến mồi quan hệ đâu tư giữa chủ thể 1a doanh nghiệp Việt Nam va nha đâu tư nước ngoài dé từ đó làm rõ những điểm nủi bật trong môi quan hệ đâu. tự trực tiép may. 'V tính chất, đây 18 quan hệ đầu tư được thiết lập trên cơ sở hợp đồng, các bên trong hop đỏng hợp tác với nhau thông qua hình thức ký kết hợp đẳng và không cân thảnh lập pháp nhân Các chủ thể trong mỗi quan hệ đâu từ này rằng buộc với nhau bởi các quyền và nghĩa vụ đã được thöa thuận trong hợp đồng, Các bên trong hop đồng vẫn giữ nguyên tư cách pháp lý của ‘minh khí thực hiên hợp đông này, không chiu sự can thiệp của một bên khác, từ đó đâm bão sự linh hoạt và độc lập trong hoạt động kinh doanh của mình.
Đối với nha đầu tư nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh cảng thể hiện rõ "ưu điểm của nó bằng việc không phải thành lập pháp nhân, một hình thức hợp tác tương đối đơn giãn vả chủ động cho một chủ thể chưa hoặc có ít kinh nghiệm trong đầu tu tại một lĩnh vực mới va một thi trường mới là Việt Nam. 13 "Về nội dung của quan hệ hợp tác, các bên trong quan hệ hợp tác đâu tư có trãch nhiệm bé vốn và công sức theo tỷ lệ nhất định tương ứng với tỷ lệ phan chia lợi nhuận có được tử hợp đồng hợp tác kanh doanh. Đồng thời các bên sé cùng chia sẽ rũi ro phát sinh tử quá trình thực hiện hợp đồng. Nhìn chung, dù là biên nhà đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp Việt Nam hay giữa các doanh nghiệp Việt Nam với nhau, thi các bên đều thực hiện bỏ vốn va công sức theo các hình thức khác nhau tủy năng lực của mình.
So sảnh hợp đồng hợp tác kinh doanh với hợp đồng liên doanh và hợp đẳng đổi tác công tư (goi chung la hợp đồng PPP) có những đặc điểm giống vva khác nhau cụ thể như sau: - Về chủ thé cửa hợp đồng, hợp đồng hợp tác inh doanh theo Luật Dau tư 2020 không bị giới han về chủ thể. Các bên trong hop đẳng có thể là nhả đâu từ trong nước với nhau hoặc nha đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài hoặc nhà đầu tư nước ngoài với nhau. Trong khi đó, hop đồng PPP lại đi hỏi một bên chủ thé trong hop đồng phải là cơ quan nha nước có thấm quyển và một bên là tổ chức tư hay các nhà đầu tư tư nhân. Hợp đồng liên doanh cũng có hạn chê vé chủ thể, theo đó, trong hợp đồng liên doanh, bất buộc phai có sự ký kết của một hoặc nhiễu nhà đâu từ trong nước với một hoặc nhiéu nhà đầu tư nước ngoài, sự tham gia của nha đầu tr trong nước là điều kiên bất buộc để hình thảnh nên hợp đồng liên doanh.
Như vậy, hình thức Hợp đông hợp tác kinh doanh rất linh hoạt về chủ thé của hợp đồng, không giới han vé chủ thé như hợp đồng liên doanh va hợp đồng PPP. - VỀ tinh chất của hợp đồng, hợp đông hợp tác kinh doanh, hợp đồng PPP là hình thức đầu từ trực tiép được ghi nhận trong Luật Đầu tư 2020, cụ thể hợp đồng BCC là một sự thỏa thuận của các bên không bi giới hạn về chủ thể dé tiến hành hợp tác kinh doanh với nhau, không thành lâp pháp nhân mới, côn hợp đồng PPP là mốt sự thoả thuân giữa các bên mã chủ thể một bên là 14 cơ quan nha nước có thẩm quyển và một bên la tư nhân, khi thực hiện dự án phải thành lập doanh nghiệp dự an. Trong khi đó, hợp đẳng liên doanh không được coi là hình thức đâu tư, mà chỉ la cơ sở pháp ly ghi nhân quan hệ đầu tư, đẳng thời, hé quả khi ky kết Hợp đẳng liên đoanh là doanh nghiệp liên doanh được thành lập - Về nội dung của quan hệ hợp tác, nhìn ting thé, các bên trong hop đồng déu nhằm mục đích tận dung những ưu thé của bên con lại để triển khai dự án nhằm thu vẻ lợi nhuân phục vụ cho các mục đích khác nhau. Trong hợp đẳng hợp tác kinh doanh, hợp đồng liên doanh thi các bên có trách nhiệm bô vốn và công sức theo tỷ lệ nhất định tương ứng với tỷ lê phân chia lợi nhuận có được từ hợp ding Điểm khác biệt co bản giữa Hợp ding hợp tác kinh doanh và hợp đồng liên doanh là hệ quả phát sinh từ hợp déng: hợp đồng hợp tác kinh doanh không dẫn đền việc thành lập pháp nhân, hợp đồng liên doanh dẫn đến thanh lập pháp nhân để điều hành, thực hiện hoạt động kinh doanh đã được théa thudn trong hợp đồng liên doanh Đối với hop đẳng PPP nôi dung của quan hệ hợp tác sé liên quan đến các van dé mang tính phát triển kinh tế xã hội, nhà nước hỗ trợ các doanh.
nghiệp tư nhân về chính sách ưu đãi, về đất đai, về pháp luật, về một phẫn vấn góp v.v, đổi lại nha đâu tư tư nhân có trách nhiệm đâu tư phân vén chủ yêu, nguén lực, công nghệ v.v để triển khai dự án và thu lợi nhuận, đồng thời cũng hỗ trợ nha nước giảm gánh năng tài chính khi tién hành đầu từ ay dựng các công trình kết câu ha tang trọng điểm. Ưu và nhược diém của hợp đồng hợp tác kinh doanh 1.UI điểm của hợp đồng hop tác kinh doanh Nhu đã để cập ở trên, với đặc thủ là loại hình đầu tư nhanh gon, mang lại lợi ích nhanh chóng cho nha đầu tư ma không cần phải trải qua thủ tục thành lập pháp nhân phiển ha, hình thức đầu tư qua hop đồng hop tác kinh 15 doanh đã từ lâu trở thành wu tiên lựa chon của nhiều doanh nghiệp trong va nước ngoài. Trong các lính vực đồi hỏi nhà đầu tư đáp ứng nhiễu quy đính pháp lý ngặt nghèo và những lĩnh vực nhạy cảm chịu kiểm soát đâu tư chat chế, ví dụ như lĩnh vực dich vụ viễn thông, lĩnh vực khai thác chế biến dâu khí và các khoáng săn quý hiểm hay lĩnh vực bất động sin vv, thi hình thức đầu tư bằng hợp đồng hợp tác kinh doanh phát huy thể mạnh tối đa của nó. Thứ nhất, bằng việc ký kết hợp dong hợp tác kinh doanh, nha dau tư có thể tiết kiệm được thời gian vả nguồn lực.
Về thời gian, khi đầu tư bằng các hình thức đâu tư khác, nhà đầu tư đu phải thành lập pháp nhân, hoặc lên kế hoạch từng bước gia nhập thi trường hoặc triển khai dự án và không thể ngay lập tức có được nguôn lợi nhuận thu vẻ, Hoặc trong một số trường hợp, các nhà đầu tư có thể tân dụng giầy phép kinh doanh ngành nghề có điều kiện của nhau để triển khai dự án sinh lời ma không cân trực tiếp tiên hanh các thủ tục phức tạp cho các loại gidy phép này.