CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẠO ĐỘNG LỰC TRONG LAO ĐỘNG 1.1 Khái niệm động lực lao động Động lực làm việc là một trong những chủ đề được bàn luận nhiều nhất trong hoạt động nghiên cứu thực tiễn của doanh nghiệp. Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích. Vì vậy các nhà quản lý luôn tìm cách để trả lời câu hỏi là tại sao người lao động lại làm việc. Để trả lời được cho câu hỏi này các nhà quản lý phải tìm hiểu về động lực của người lao động và tìm cách tạo động lực cho người lao động trong quá trình làm việc.
Động lực của người lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức. Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và môi trường sống và làm việc của con người. Do đó hành vi có động lực (hay hành vi được thúc đẩy, được khuyến khích) trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố như văn hóa của tổ chức, kiểu lãnh đạo, cấu trúc của tổ chức và các chính sách về nhân lực cũng như sự thực hiện của các chính sách đó [1, trang 128 ]. Những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động. Động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người. Khi con người ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác nhau. Chính vì những đặc điểm này nên động lực của mỗi con người là khác nhau vì vậy nhà quản lý cần có những cách tác động khác nhau đến mỗi người lao động.
Tạo động lực làm việc cho người lao động là hoạt động có ý nghĩa rất lớn với cả tổ chức và người lao động. Động lực làm việc giúp cho người lạo động có nhiều sáng kiến, sáng tạo hơn trong công việc từ đó cải thiện nâng cao năng suất lao động. Ngô Minh Quang, Khóa 2011 - 2013 4 Luận văn thạc sỹ QTKD Viện kinh tế & quản lý trường ĐHBK Hà Nội Động lực làm việc giúp cho những lao động mới được tuyển dụng hòa nhập nhanh chóng vào “guồng quay” của tổ chức, rút ngắn thời gian lãng phí không cần thiết. Động lực làm việc cũng làm cho các lao động cũ của doanh nghiệp càng thêm gắn bó, trung thành, tận tụy với công việc hơn, “ xây dựng mái nhà chung” ngày càng phát triển, hiệu quả.
Nếu không có động lực làm việc, người lao động sẽ làm việc theo những khuôn mẫu cứng nhắc, thiếu linh hoạt, sáng tạo chỉ làm việc với tư tưởng làm cho xong việc, không những không mang lại hiệu quả công việc mà có khi còn gây ra những tác hại tiêu cực không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho ngay chính bản thân người lao động. Đối với doanh nghiệp tác hại của việc người lao động không có động lực làm việc có thể kể đến là: Lãng phí tài nguyên nhân lực của tổ chức, không phát huy hết năng suất lao động, không xây dựng được tác phong làm việc cho người lao động…tác động tiêu cực của việc thiếu động lực lao động ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động là: Suy giảm lòng tin với doanh nghiệp nơi công tác, giảm lòng tin của lãnh đạo, của đồng nghiệp, làm thui chột nhiệt huyết làm việc, ý chí phấn đấu, rèn luyện bản thân, về lâu dài làm cho người lao động không cập nhật kiến thức mới về nghề nghiệp, và không theo kịp với sự phát triển, yêu cầu công việc. Trong nền kinh tế thị trường việc tồn tại, cạnh tranh và phát triển là 3 vấn đề lớn mà doanh nghiệp luôn luôn phải đối mặt. 1 trong những điểm mấu chốt có thể giải quyết đồng thời cả 3 vấn đề trên đó là tăng năng suất lao động.
Vậy tăng năng suất lao động phụ thuộc vào các yếu tố nào và làm như thế nào để tăng năng suất lao động, nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng: Năng suất lao động = F (A, M, E) [2, trang 7] Trong 3 biến của hàm năng suất lao động ở trên năng lực làm việc là tổng hợp các yếu tố giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm làm việc kết hợp với công nghệ máy móc mà doanh nghiệp sử dụng. + Năng lực cá nhân (A) được hình thành trong cả quá trình do đó để nâng cao năng lực mỗi người lao động không phải là việc làm đơn giản có thể hành thành Ngô Minh Quang, Khóa 2011 - 2013 5 Luận văn thạc sỹ QTKD Viện kinh tế & quản lý trường ĐHBK Hà Nội 1 sớm 1 chiều. Công nghệ cũng là 1 yếu tố khó tác động do vướng phải yếu tố kinh phí đầu tư, nguồn cung cấp. + Động lực làm việc (M) lại là biến số khác nó có thể tác động nhanh bằng các chính sách, hoạt động khen thưởng, khuyến khích các đơn vị doanh nghiệp.
Điều cần lưu ý ở dây là tác động có thể làm biến đổi động lực làm việc của người lao động theo 2 hướng: Nâng lên và giảm xuống, do đó doanh nghiệp cần có chính sách phù hợp thì mới phát huy được động lực làm việc. + Môi trường làm việc (E) là biến số về việc trao quyền làm việc chủ động, môi trường làm việc theo nhóm, hỗ trợ trong công việc và văn hóa doanh nghiệp. Từ hàm Năng suất lao động ta có thể đề ra các giải pháp nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp theo các hướng nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực công ty, đổi mới công nghệ hoặc nâng cao động lực làm việc của lực lượng lao động đó, các cách tác động này đều đưa đến chung một kết quả. Như phần trên phân tích chúng ta thấy rằng tăng cường động lực làm việc là cách tác động có tác dụng trực tiếp nhất, đem lại hiệu quả ngay tức thời; tuy nhiên đây là biện pháp đòi hỏi nhà quản lý phải xây dựng và vận hành cả một hệ thống chính sách, giải pháp quản lý khoa học, hợp lý kết hợp với vận dụng nghệ thuật trong quản lý, điều hành hoạt động.
Nếu người lao động làm việc với động lực làm việc cao sẽ làm tăng năng suất lao động, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và đóng góp vào sự phát triển của doanh nghiệp. Bên cạnh việc nâng cao năng suất làm việc của người lao động, động lực làm việc còn có tác dụng làm cho người lao động thêm hăng say, gắn bó với doanh nghiệp hơn, luôn làm việc với bầu nhiệt huyết căng tràn. Do đó tạo động lực làm việc cũng là biện pháp quan trọng để nhà quản lý gìn giữ , thu hút nhân tài được ví như nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đặc biệt khi nền kinh tế ngày càng cần thiết tri thức, kỹ năng tay nghề cao. Tạo động lực làm việc cho người lao động cũng sẽ làm các hoạt động khác của doanh nghiệp trở nên thuận lợi hơn, giúp nhà lãnh đạo quản lý khoa học hơn, tiết kiệm chi phí lao động.
Ngô Minh Quang, Khóa 2011 - 2013 6 Luận văn thạc sỹ QTKD Viện kinh tế & quản lý trường ĐHBK Hà Nội 1.2 Nội dung tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp Các nhà quản trị trong tổ chức muốn xây dựng doanh nghiệp vững mạnh thì phải dùng mọi biện pháp kích thích người lao động hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc. Các biện pháp kích thích đó sẽ tạo nên động lực làm việc cho người lao động. Vậy tạo động lực lao động được hiểu là tất cả các biện pháp của nhà quản trị áp dụng vào người lao động nhằm tạo ra động lực cho người lao động ví dụ như: thiết lập nên những mục tiêu thiết thực vừa phù hợp với mục đích của người lao động vừa thoả mãn được mục tiêu của doanh nghiệp, sử dụng các biện pháp kích thích về vật chất và tinh thần, tạo ra bầu không khí thi đua trong nhân viên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Vấn đề quan trọng của động lực đó là mục tiêu.
Nhưng để đề ra được những mục tiêu phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của người lao động, tạo cho người lao động sự hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc thì nhà quản lý phải biết được mục đích hướng tới của người lao động sẽ là gì. Việc dự đoán và kiểm soát hành động của người lao động hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua việc nhận biết động cơ và nhu cầu của họ. Xét theo quan điểm nhu cầu quá trình tạo động lực xảy ra các bước: Nhu cầu Sự Các Hành Nhu cầu Giảm không căng động vi được sự được thoả thẳng cơ tìm thoả căng mãn kiếm mãn thẳng Sơ đồ 1. Quá trình tạo động lực Nhu cầu không được thoả mãn sẽ tạo ra sự căng thẳng, kích thích những động cơ bên trong các cá nhân.
Những động cơ này tạo ra một cuộc tìm kiếm nhằm có được các mục tiêu cụ thể mà nếu đạt được sẽ thoả mãn nhu cầu này và dẫn đến giảm sự căng thẳng. Ngô Minh Quang, Khóa 2011 - 2013 7 Luận văn thạc sỹ QTKD Viện kinh tế & quản lý trường ĐHBK Hà Nội Các nhân viên có động lực lao động thường ở trong tình trạng căng thẳng. Để làm giảm sự căng thẳng này, họ sẽ tham gia vào hoạt động. Mức độ căng thẳng càng lớn thì càng cần phải có hoạt động để làm dịu sự căng thẳng.
Vì vậy, khi thấy các nhân viên làm việc chăm chỉ trong một hoạt động nào đó, chúng ta có thể kết luận rằng họ bị chi phối bởi một sự mong muốn đạt được một mục tiêu nhất định mà họ cho là có giá trị. Như vậy tạo động lực nhằm mục đích gì, hiện nay hiệu quả công tác tạo động lực lao động trong các công ty của Việt Nam chưa cao do vậy cần tìm hiểu lý do qua việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo động lực.3 Mục đích của tạo động lực làm việc trong doanh nghiệp. Tạo động lực lao động là việc sử dụng nguồn lao động một cách có hiệu quả nhất và đồng thời khai thác được tiềm năng nguồn nhân lực của tổ chức.