CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SƠ LÝ LUẬN VÈ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Khái niệm cán bộ, công chức 1. Khái niệm cán bộ Cán bộ là công dân Việt Nam trong biên chế bao gồm: - Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tô chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện); - Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; người đứng đầu tổ chức chính trị xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); 1. Khái niệm công chức Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (đã được sửa đổi, bố sung năm 2000 và năm 2003) và Nghị định 117/NĐ — CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyên dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước thì công chức là công dân Việt Nam, được tuyên dụng vào biên chế, bố nhiệm vào một ngạch công chức hoặc được giao giữ một công vụ thường xuyên, hưởng lương từ ngân sách, làm việc trong các cơ quan nhà nước sau: - Các tô chức thuộc Văn phòng Quốc hội thực hiện chức năng nhiệm vụ giúp VIỆC Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các ủy ban của quốc hội, các ban của Ủy ban thường vụ Quốc hội (trừ các đơn vị sự nghiệp trực thuộc); - Các tô chức giúp chủ nhiệm văn phòng Chủ tịch nước trong việc phục vụ Chủ tịch nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; - Các tổ chức giúp Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước; - Các tổ chức giúp Ủy ban nhân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước; - Các tổ chức giúp Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của hiến pháp và pháp luật (trừ các đơn vị sự nghiệp trực thuộc); - Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; GVHD: Th.
Võ Duy Nam 4 SVTH: Đỗ Thị Út Đề tài: Đánh giá cán bộ, công chức - Lý luận và thực tiễn - Những người được tuyển dụng, bồ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp; - Những người được tuyển dụng, bồ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tô chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; - Những người được tuyến dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. Sơ lược sự phát triển cán bộ, công chức qua các thời kỳ lịch sử Ở Việt Nam quan niệm vẻ cán bộ, công chức cũng hình thành và phát triển liên tục và theo tiến trình lịch sử, mỗi thời kỳ khác nhau có quan niệm khác nhau về cán bộ, công chức. Ngay trong sắc lệnh 76/SL được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 20/05/1950 chỉ ra: “công dân Việt Nam được chính quyền cách mạng tuyên bổ giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan chính phủ mới được coi là công chức”. Ở sắc lệnh này phạm vi công chức ở một phạm vi rất hẹp.
Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, khái niệm về cán bộ, công chức ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Đến pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998 được xem là sự đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình xây dựng pháp luật về cán bộ, công chức. Theo Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998 thì: cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách bao gồm: - Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tô chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao giữ nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tô chức chính trị, tô chức chính trị - xã hội; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng; - Tham phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dần mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp. V6 Duy Nam 5 SVTH: Dé Thi Ut Đề tài: Đánh giá cán bộ, công chức - Lý luận và thực tiễn Trai qua 5 nam áp dụng Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 tỏ ra có nhiều bất cập cần phải được sửa đổi, bố sung cho phù hợp với tình hình mới.
Theo pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi ngày 29/04/2003 đối tượng cán bộ, công chức cơ sở được bổ sung gồm: - Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; những người là Bí thư, phó Bí thư Đảng ủy, những người đứng đầu tô chức chính trị xã, phường, thị trần. - Những người được tuyên dụng, giao giữ một chức trách chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. Dây chưa phải là một khái niệm hoàn hảo nhưng nó đã bao quát được phạm vi những người làm việc trong biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Khái niệm này đã trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển sau: 1.
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 Đây là giai đoạn lịch sử đặt nền tảng cho quá trình hình thành nên công vụ kiêu mới về tính chất ở nước ta - nền công vụ phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp cách mạng toàn Đảng, toàn dân. Cách mang thang tam nam 1945 thành công với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa - Nhà nước kiểu mới - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Châu Á, chế độ công vụ mới được hình thành — chế độ công vụ cách mạng, phụng sự sự nghiệp cách mạng, phục vụ nhân dân. Những người phục vụ trong bộ máy nhà nước được nhân dân và xã hội kính trọng gọi là: “cán bộ công nhân viên chức nhà nước”. Cùng với việc xóa bỏ bộ máy cai trị thực dân phong kiến, chính quyền cách mạng đã từng bước xác lập chế độ công chức mới.
Ngày 13/09/1945 Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban sắc lệnh số 32 bãi bỏ hai ngạch quan hành chính và quan tư pháp. Hiến pháp năm 1946 ra đời làm cơ sở cho việc hình thành các văn bản luật về công chức. Ngày 09/05/1948 Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã ban hành sắc lệnh số 88/SL lập chế độ công chức mới với một thang lương chung cho các ngạch và các hạng công chức Việt Nam phù hợp với chính thé Dan chi Cộng hòa. Sắc lệnh gồm 16 Điều, điều chỉnh những nội dung sau: quy định thang lương chung; tổ chức các ngạch công chức; quy định các khoản phụ cấp; trọng dụng thành tích và tài năng: quy định đối với công chức thuộc đồng bào miền núi; quy định đối với công chức phụ nữ; đối với công chức gia nhập quân đội; đối với quân nhân giải ngũ; đối với công chức cũ trở lại làm việc hoặc tập trung; đối với công chức tạm thời đối với công chức chính ngạch hiện tại.
Như vậy, ngay trong thời kỳ đầu thành lập nước những nội dung căn bản nhất, cấp bách về công chức nhà nước đã được điều chỉnh bằng pháp luật. Điều đó GVHD: Th. Võ Duy Nam 6 SVTH: Đỗ Thị Út Đề tài: Đánh giá cán bộ, công chức - Lý luận và thực tiễn có tác dụng động viên mọi tầng lớp lao động trí thức và nhân dân tham gia vào việc xây dựng, bảo vệ chính quyền và kiến thiết một nhà nước kiểu mới, đồng thời tạo ra một đội ngũ công chức trung thành với Tổ quốc, tận tâm với công vụ, phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến. Bộ máy nhà nước trong kháng chiến đã dần 6n định và hoạt động có hiệu quả.
Tổ chức các cơ quan hành chính, chuyên môn đã được chấn chỉnh, nhiệm vụ quản lý điều hành hoạt động của bộ máy nhà nước ngày càng tăng, từ đó đặt ra nhu cầu tuyến dụng nhiều công chức mới. Những nội dung và phạm vi điều chỉnh của sắc lệnh 188/SL đã không còn đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Ngày 22/05/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 76/SL ban hành quy chế công chức. Bản quy chế này đặt ra những nguyên tắc cơ bản và tông hợp các vấn đề về công chức đồng thời quy định việc tô chức và quản trị công chức theo mô hình nhà nước dân chủ mới.
Quy chế gồm 7 chương 92 Điều. Lần đầu tiên khái niệm công chức đã được đưa vào Quy chế pháp lý của nhà nước: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do chính phủ quy định”. Nội dung điều chỉnh của quy chế là toàn bộ các vấn đề về nghĩa vụ, quyền lợi, tổ chức quản trị, sử dụng, tuyển dụng, thăng thưởng, hưu trí, kỷ luật, thôi việc. Trong đó có nêu rõ công chức có nghĩa vụ phục vụ nhân dân, trung thành với Chính phủ, cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư.
Đồng thời công chức được hưởng các quyền lợi về lương, phụ cấp, hưu trí, được chăm sóc về sức khỏe, trợ cấp khi tai nạn, tham gia hoạt động về chính trị, văn hóa, xã hội, gia nhập các tô chức đoàn.